Dịch Thuật

Dịch Roman Jakonson

Theo Bertrand Russell, “không một ai có thể hiểu được ý nghĩa của từ ‘cheese’ (pho mát) trừ khi họ có một sự hiểu biết phi ngôn ngữ với nó”. Tuy nhiên, nếu chúng ta nghe theo lời của Russell và xem xét ngôn ngữ theo quan điểm của triết học truyền thống, chúng ta buộc phải cho rằng người ta chỉ có thể nắm bắt ý nghĩa một từ vựng khi và chỉ khi họ có tiếp xúc, trải nghiệm với cái sự vật, hiện tượng mà từ vựng đó phản ánh trong đời thực. Tuy nhiên, những ai đến từ một nền văn hóa ẩm thực không dùng pho mát cũng có thể hiểu được từ “cheese” trong Tiếng Anh nếu (1) họ biết được trong ngôn ngữ này nó có nghĩa là một loại thực phẩm được làm ra bằng cách đông tụ sữa, tách nước và nén lại thành một khối, và (2) họ hiểu những từ như “đông tự sữa” nghĩa là gì, tức là có một sự hiểu biết ngôn ngữ với chúng. Tương tự như vậy, dù chúng ta chưa bao giờ nếm thử ambrosia hay nectar, thậm chí chưa bao giờ gặp gods, những người mà theo thần thoại chỉ họ mới được dùng những món trên, nhưng chúng ta vẫn hiểu chúng và biết trong ngữ cảnh nào thì chúng được dùng nếu chúng ta có hiểu ngôn ngữ với những từ vựng trên,

Ý nghĩa của những từ như “cheese”, “apple”, “nectar”, “acquaintance”, “but”, “mere” cũng như của bất cứ những từ hay cụm từ nào khác, khác hiển nhiên đều chỉ là những hiện tượng của ngôn ngữ học – hay nói một cách chính xác và ít khu biệt hơn – đều là những hiện tượng của ký hiệu học. Với những ai cho rằng ý nghĩa của một từ (tức cái được biểu đạt – signatum) không nằm ở cái biểu đạt (signum) mà nằm ở sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, bản thân cái thực tế là chưa một ai từng nếm hay ngửi được ý nghĩa của cái từ “cheese” hay “apple” đã là một sự phản biện đơn giản mà đúng đắn nhất. Sẽ chẳng có cái được biểu đạt nào nếu không có cái biểu đạt. Ý nghĩa từ từ “cheese” không thể được rút ra từ một trải nghiệm phi ngôn ngữ mà không có sự hỗ trợ của những dấu hiệu lời nói. Một kiến thức nhất định về các dấu hiệu ngôn ngữ là cần thiết để một người nắm bắt được một từ vựng mới. Chỉ trỏ vào một hộp pho mát chẳng giúp chúng ta biết được từ cheese là để chỉ cái gì, là chỉ miếng pho mát hay cái hộp giấy đựng pho mát, là chỉ toàn bộ những miếng pho mát loại cheddar hay là toàn bộ những miếng pho mát loại camembert, hay là để chỉ tất cả những sản phẩm làm từ sữa có mặt trên đời? Cuối cùng, phải chăng một từ vựng chỉ có chức năng gọi tên một sự vật hiện tượng nào đó trong đời sống khách quan, hay nó còn hàm chứa một ý nghĩa nào khác, chẳng hạn những từ đề xuất, bán hàng, cấm đoán, ô nhục?

Với chúng ta, vừa là những nhà ngôn ngữ lại vừa là những người dùng ngôn ngữ trong giao tiếp thường nhật, ý nghĩa của bất cứ một dấu hiệu ngôn ngữ nào đều chỉ là sự phiên dịch của nó tới những dấu hiệu ngôn ngữ mở rộng, thay thế, đặc biệt là một dấu hiệu mà “ở đó nó được phát triển một cách toàn vẹn hơn” như Peirce, người đi sâu nhất vào bản chất của các dấu hiệu từng khẳng định một cách chắc nịch. Từ vựng “bachelor” có thể được chuyển đổi thành một từ vựng khác có nghĩa rõ ràng hơn, “unmarried man”, bất cứ khi nào sự rõ ràng cần được ưu tiên đảm bảo. Ở đây, chúng ta cần phân biệt: từ một dấu hiệu lời nói của một ngôn ngữ, ta có thể phiên dịch nó thành những dấu hiệu khác thuộc cùng một ngôn ngữ, thuộc một ngôn ngữ khác, hoặc thành một hệ thống những biểu tượng phi ngôn ngữ. Ba loại phiên dịch này cần được gọi tên khác nhau:

  • Dịch nội ngữ (Intralingual translation hoặc rewording, diễn thuật): sự diễn dịch những dấu hiệu ngôn ngữ bằng những dấu hiệu ngôn ngữ khác thuộc cùng một ngôn ngữ.
  • Dịch ngoại ngữ (Interlingual translation hoặc proper translation, dịch thuật đúng nghĩa): sự diễn dịch của các dấu hiệu ngôn ngữ bằng những dấu hiệu ngôn ngữ khác thuộc một ngôn ngữ khác.
  • Dịch ký hiệu (Intersemiotic translation hoặc transmutation, chuyển dịch) là sự diễn dịch những dấu hiệu ngôn ngữ bằng hệ thống những dấu hiệu phi ngôn ngữ.

Dịch nội ngữ một từ cần đến những từ khác có nghĩa gần tương đương hoặc phải cần những cách giải thích dài dòng. Tuy nhiên, sự đồng nghĩa, về nguyên tắc, không phải là một sự tương thích hoàn toàn về mặt ngữ nghĩa. Chẳng hạn, “celibate”, tức người đàn ông độc thân, chắc chắn là một “bachelor”, một người đàn ông chưa có vợ. Nhưng một “bachelor” không nhất thiết là một “celibate”. Một từ hay một ngữ cố định, nói chung là một đơn ngôn ngữ bậc cao nhất, hoàn toàn có thể được diễn giải bằng sự kết hợp những đơn vị ngôn ngữ khác có tính tương thích. Chẳng hạn, một thông điệp đề cập đến đơn vị ngôn ngữ này “every bachelor is an unmarried man, and every unmarried man is a bachelor” hay là “every celibate is bound not to marry, and everyone who is bound not to marry is a celibate”.

Tương tự như vậy, ở mức độ dịch ngoại ngữ, thường không có sự tương thích hoàn toàn giữa các đơn vị ngôn ngữ, tuy thông điệp được dịch có thể đáp ứng yêu cầu đầy đủ về diễn dịch những đơn vị ngôn ngữ hay thông điệp lạ. Từ tiếng Anh “cheese” không thể được nhận diện hoàn toàn với một từ đồng-dạng-khác-âm-khác-nghĩa [17] trong tiếng Nga tiêu chuẩn của nó “syr”, bởi vì pho mát thôn quê [18] là một thứ pho mát, nhưng không phải là một сыр.  Những người Nga nói: “prinesi syru i tvorogu” nghĩa là “mang pho mát lại và [sic] pho mát thôn quê.” Trong tiếng Nga tiêu chuẩn, thực phẩm làm từ sữa đông đem ép chỉ gọi là syr nếu có dùng men.

Thường xuyên nhất, tuy nhiên, bản dịch từ ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác thay thế những thông điệp trong một ngôn ngữ, không phải với những những đơn vị tín hiệu riêng biệt, nhưng với toàn bộ những thông điệp trong ngôn ngữ khác nào đó. Một sự phiên dịch như thế là một bài nói tường thuật, người dịch tín hiệu lại, và truyền đi một thông điệp đã nhận được từ một nguồn khác. Thế nên, phiên dịch liên quan đến hai thông điệp tương đương trong hai hệ thống tín hiệu khác nhau.

Tương đương trong sự khác biệt là vấn đề số đếm của ngôn ngữ, và mối quan tâm then chốt của ngôn ngữ học. Giống như bất kỳ người tiếp nhận nào của những thông điệp bằng lời nói, nhà ngôn ngữ học hoạt động như người thông dịch của chúng. Không có mẫu-xét-nghiệm ngữ học nào có thể được giải thích bằng khoa học của ngôn ngữ mà không có một sự thông dịch của những dấu hiệu của nó sang qua những dấu hiệu khác của cùng hệ thống, hoặc sang qua những dấu hiệu của một hệ thống khác. Bất kỳ sự so sánh nào của hai ngôn ngữ hàm ý một sự tra xét về tính thông dịch qua lại lẫn nhau của chúng; sự thực hành phổ biến của sự thông tin khác ngôn ngữ, đặc biệt là những hoạt động thông dịch, phải được giữ dưới sự xét duyệt kỹ lưỡng liên tục của khoa học ngôn ngữ. Khó để mà đánh giá quá đáng về nhu cầu cấp thiết, và tầm quan trọng lý luận và thực tiễn của, của những từ điển song ngữ khác biệt với định nghĩa so sánh cẩn thận của tất cả những đơn vị tương ứng trong độ sâu mạnh và độ mở rộng của chúng. Tương tự như vậy những ngữ pháp song ngữ khác biệt cần xác định những gì thống nhất và những gì khác biệt giữa hai ngôn ngữ trong việc lựa chọn và phân định giới hạn những khái niệm ngữ pháp.

 

Cả hai, thực hành và lý thuyết của sự phiên dịch nhiều nhan nhản những điều phức tạp, và thỉnh thoảng lại có những nỗ lực được thực hiện để cắt đứt những nút thắt Gordian [19] bằng cách công bố tín điều của sự không-thể-phiên-dịch. “Ông bình thường hàng ngày, nhà lôgích tự nhiên”, B. L. Whorf tưởng tượng một cách sinh động, được giả định là đã đi đến những mẩu của lý luận sau đây: “Những sự kiện là không giống với những người phát ngôn vốn quá trình cơ sở ngôn ngữ của họ đem cho sự phát biểu hệ thống không giống về chúng ” [20]. Trong những năm đầu của cách mạng Nga, có những nhà viễn kiến cuồng tín, đã lập luận trong những tạp chí định kỳ của SôViết cho một sự duyệt lại căn bản của ngôn ngữ truyền thống, và đặc biệt là đối với việc loại bỏ những diễn tả sai lệch như  “mặt trời mọc” hoặc “mặt trời lặn”.  Tuy nhiên, chúng ta vẫn sử dụng hình ảnh theo như lý thuyết vũ trụ của Ptolemy mà không ngụ ý một sự từ chối với học thuyết vũ trụ của Copernicus, và chúng ta có thể chuyển đổi dễ dàng lối nói chuyện thành tập quán về mặt trời mọc và lặn vào trong một hình ảnh của sự quay của trái đất của chúng ta, đơn giản chỉ vì bất kỳ dấu hiệu nào được phiên dịch được sang một dấu hiệu, trong đó nó xuất hiện với chúng ta phát triển đầy đủ hơn và chính xác hơn.

 

Một khả năng nói một ngôn ngữ nhất định tiềm ẩn một khả năng để nói về ngôn ngữ này. Một thao tác “ngôn ngữ nói về ngôn ngữ” [21] giống như thế cho phép rà soát lại và xác định lại vốn từ vựng được sử dụng. Sự bổ sung của cả hai tầng mức – ngôn ngữ đối tượng và ngôn ngữ nói về ngôn ngữ – đã được Niels Bohr đem ra: tất cả những bằng chứng thực nghiệm đã được xác định hay đẹp phải được diễn tả bằng ngôn ngữ bình thường, “trong đó việc sử dụng thực tế của mỗi từ là đứng ra như trong quan hệ bổ sung cho những nỗ lực về sự định nghĩa chặt chẽ của nó” [22] “.

 

Tất cả những kinh nghiệm nhận thức và xếp loại của nó là có thể truyền đạt được sang trong bất kỳ một ngôn ngữ nào hiện có. Bất cứ khi nào có sự thiếu hụt thuật ngữ, có thể làm thành đủ khả năng và thành mở rộng bằng những từ-vay [23], hoặc những phiên-dịch-vay [24], những từ-mới [25] hoặc thay-đổi-ngữ-nghĩa, và cuối cùng, bằng những cách nói dài dòng hay quanh co [26]. Thế nên, trong ngôn ngữ văn học sơ sinh của dân Chukchees ở Đông Bắc Siberia, “ốc vít” diễn tả là “móng tay quay”, “thép” là “sắt cứng”, “nhôm” là “sắt mỏng”, “phấn viết bảng” là “xà phòng đem viết”, “đồng hồ tay” như là “tim đập như búa đóng”. Thậm chí có những cách nói dài dòng quanh co nghe ra mâu thuẫn hiển nhiên, như “xe-ngựa-kéo chạy điện” (электрическая конка), tên tiếng Nga đầu tiên gọi xe có toa dài trên đường sắt kéo bằng ngựa, nay chạy điện không dùng ngựa, gọi là xe-điện [27], hay “tàu-hơi-nước bay” (jena paraqot), tên gọi của dân vùng Koryak cho máy bay, chỉ đơn giản là chọn và chỉ ra sự tương tự về điện của xe ngựa kéo, và sự tương tự về bay của tàu chạy hơi nước [28], và không cản trở sự thông tin truyền đạt, giống như là không có “tiếng ồn” ngữ nghĩa và xáo trộn trong lối nói nghịch hợp [29]  “dồi-nóng bằng thịt bò và lợn cắt lát để nguội” [30].

 

Không phải sự thiếu những dụng cụ ngữ pháp trong ngôn ngữ dịch sang (ngôn ngữ đích), làm cho không thể nào có một bản dịch theo nghĩa đen, từng chữ một, của toàn bộ khái niệm thông tin chứa trong bản gốc. Những liên từ truyền thống “và,” “hoặc”, giờ đây được bổ sung bởi một liên kết mới – “và/hoặc” [31]– vốn đã được thảo luận một vài năm trước đây trong cuốn sách thông minh dí dỏm Federal Prose – How to Write in and/or for Washington [32]. Trong ba liên từ này, chỉ từ cuối cùng (và/hoặc) thấy xuất hiện ở một trong những ngôn ngữ của dân Samoyed vùng đông bắc Russia [33]. Mặc dù có những khác biệt trong bảng danh sách kiểm kê về liên từ, tất cả ba loại khác nhau của thông điệp được quan sát trong “Federal Prose” có thể được phiên dịch rõ ràng sang cả hai: tiếng Anh truyền thống và ngôn ngữ dân Samoyed.

 

Văn xuôi trong chính phủ liên bang: 1) John và Peter, 2) John hay Peter, 3) John và/hoặc Peter sẽ đến [34].

Tiếng Anh truyền thống: 3) John và Peter hoặc một trong số họ sẽ đến [35].

Tiếng Samoyed: 1) John và/hoặc Peter cả hai sẽ đến. 2) John và/hoặc Peter, một trong số họ sẽ đến. [36]

 

Nếu một vài hạng mục ngữ pháp [37] bị vắng mặt trong một ngôn ngữ nhất định, ý nghĩa của nó có thể được dịch sang ngôn ngữ này bằng những phương tiện từ vựng. Những hình thức kép như tiếng Nga cổ “брата” được dịch với sự giúp đỡ của chữ số: “hai anh em”. Là khó khăn hơn để trung thành với bản gốc khi chúng ta dịch sang một ngôn ngữ được cung cấp với một hạng mục ngữ pháp nhất định từ một ngôn ngữ không có loại như vậy. Khi dịch những câu tiếng Anh “Cô ấy có những anh em” (“she has brothers”) [38] sang một ngôn ngữ vốn nó không phân biệt sự đi-cặp-đôi và số nhiều, chúng ta bắt buộc phải – hoặc làm sự lựa chọn của chúng ta giữa hai phát biểu “Cô ấy có hai anh em” – “Cô ấy có hơn hai anh em”, hay để quyết định lại cho người nghe, và nói: “Cô ấy có hai, hoặc nhiều hơn hai anh em”. Lại nữa, trong khi dịch từ một ngôn ngữ mà ngữ pháp không có số nhiều sang tiếng Anh, người ta bắt buộc phải chọn một trong hai điều có thể xảy ra: – “anh em” hoặc “những anh em” [39], hoặc để người nhận thông điệp này đối đầu với một tình huống có hai lựa chọn: “Cô ấy có, hoặc là một, hoặc là nhiều hơn một anh em trai”.

 

Như Boas đã quan sát gọn gàng, mô hình ngữ pháp của một ngôn ngữ (như trái ngược với kho chứa từ vựng của nó) xác định những khía cạnh đó của mỗi kinh nghiệm vốn phải được thể hiện trong một ngôn ngữ nhất định: “Chúng ta phải lựa chọn giữa những khía cạnh này, và một hay một khác phải được chọn” [40]. Để dịch chính xác câu tiếng Anh “tôi đã thuê một người thợ” (“I hired a worker”), một người Nga đòi hỏi thông tin bổ sung, như – liệu hành động này đã hoàn tất hay chưa, và liệu công nhân là một người nam hay nữ, bởi vì ông phải lựa chọn giữa một động từ có khía cạnh hoàn tất hay không hoàn tất – нанял hoặc нанимал, và giữa một danh từ giống đực hay giống cái – работника hoặc работницу. Nếu tôi hỏi người phát ngôn câu tiếng Anh này – không biết người thợ là nam hay nữ, câu hỏi của tôi có thể được phán đoàn là ăn nói không liên quan, hoặc ăn nói không kín đáo, trong khi câu này ở phiên bản Nga, một trả lời cho câu hỏi này là bắt buộc. Mặt khác, dù là sự lựa chọn nào đi nữa trong những hình thức ngữ pháp Nga để dịch những thông điệp tiếng Anh trích dẫn, bản dịch sẽ không cung cấp trả lời cho câu hỏi liệu tôi “đã thuê” (hired) hoặc “đã có thuê” (have hired) người thợ, hoặc không biết ông/bà (thợ) ấy là một người thợ xác định hay không xác định (“a” hay “the”). Bởi vì những thông tin theo yêu cầu của mô hình ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Nga là không giống như nhau, chúng ta phải đối mặt với những tập hợp của những tình huống có hai-lựa-chọn, do đó một chuỗi những bản dịch của một và cùng một câu đứng riêng lẻ từ tiếng Anh sang tiếng Nga và ngược lại, có thể hoàn toàn tước đi một thông điệp giống như thế, nội dung ban đầu của nó. Nhà ngữ học S. Karcevski của trường phái Geneva đã thường so sánh sự mất dần dần như thế với một chuỗi chạy quanh những chuyển dịch tiền tệ không thuận lợi. Nhưng rõ ràng nội dung một thông điệp càng phong phú hơn bao nhiêu, sự mất mát thông tin càng nhỏ hơn bất nhiêu.

 

Ngôn ngữ khác biệt chủ yếu là ở những gì chúng phải truyền đạt và không phải những gì chúng có thể truyền đạt. Mỗi động từ của một ngôn ngữ nhất định bắt buộc nêu lên như mệnh lệnh một tập hợp những câu hỏi cụ thể loại có-hay-không, như lấy thí dụ: có phải sự kiện được kể có hình thành trong óc với sự ám chỉ tới sự hoàn thành của nó hay không? Có phải biến cố được tường thuật được trình bày như là xảy ra trước khi có sự kiện nói kể hay là không? Một cách tự nhiên, sự chú ý của người nói và người nghe tiếng bản xứ sẽ được liên tục tập trung vào những đề mục như thế như là bắt buộc trong tín hiệu của lời nói của họ.

 

Trong chức năng nhận thức của nó, ngôn ngữ là phụ thuộc tối thiểu vào mô hình ngữ pháp bởi vì định nghĩa của kinh nghiệm của chúng ta đại diện cho mối quan hệ bổ sung cho những hoạt động ngôn ngữ nói về ngôn ngữ – mức độ nhận thức của ngôn ngữ không chỉ thừa nhận nhưng trực tiếp yêu cầu sự diễn dịch viết lại mã hiệu, tức là, dịch thuật. Bất kỳ sự giả định nào về khả năng hoặc không thể nói ra được hoặc không thể dịch được về những dữ liệu nhận thức sẽ là một mâu thuẫn trong những điều kiện. Nhưng trong lời giễu cợt, trong những giấc mơ, ảo thuật, nói vắn gọn, trong những gì người ta sẽ gọi là thần thoại về lời nói của hàng ngày, và trên tất cả, trong thơ ca; những phạm trù ngữ pháp chuyên chở một cho biết cao về ngữ nghĩa. Trong những điều kiện này, câu hỏi về sự phiên dịch trở nên chằng chịt rắc rối hơn nhiều và gây tranh cãi.

 

Ngay cả một phạm trù giống như giới tính trong ngữ pháp, thường được trích dẫn là chỉ đơn thuần là hình thức, đóng một vai trò rất lớn trong những thái độ thần thoại của một cộng đồng nói cùng ngôn ngữ. Trong tiếng Nga, giống cái không có thể chỉ định một người nam, giống đực cũng không chỉ định một người nữ. Những cách nhân cách hóa hoặc ẩn dụ hóa khi giải thích những danh từ chỉ những tĩnh vật bất động được thúc đẩy bởi giới tính của chúng. Một thử nghiệm tại Viện Tâm lý Moscow (1915) cho thấy rằng người Nga, ngả về nhân cách hóa những ngày trong tuần, luôn luôn trình bày Thứ hai, thứ ba và thứ năm như nam giới, và thứ Tư, thứ Sáu và thứ Bảy như là phụ nữ, mà không nhận ra rằng phân phối này là do những giới tính giống đực của ba tên gọi đầu tiên (понедельник, вторник, четверг) so với giới tính giống cái của những tên gọi khác (среда, пятница, суббота). Sự kiện rằng từ gọi ngày thứ Sáu là giống đực trong một vài ngôn ngữ Slavic, và giống cái trong một số khác, thì phản ánh trong những truyền thống dân gian của những dân tộc tương ứng, vốn có sự khác biệt trong nghi lễ ngày thứ Sáu của họ. Tục mê tín dị đoan Nga phổ biến là một nếu một con dao rơi báo trước sẽ có một khách nam, và một phuốc-xét rơi là báo một khách nữ, thì được xác định trong giới tính trong tiếng Nga: giống đực của từ “нож”, con dao;  và giống cái của từ “вилка”, phuốc-xét. Trong những ngôn ngữ Slavic và những ngôn ngữ khác, trong đó “ngày” là giống đực, và “đêm” giống cái, ngày được những nhà thơ trình bày như người yêu của đêm. Họa sĩ Nga Repin đã sững sờ không thể hiểu lý do tại sao “tội lỗi” (sin) đã được những nghệ sĩ Đức mô tả như một người phụ nữ: ông đã không nhận ra rằng “tội lỗi” là giống cái trong tiếng Đức (die Sünde), nhưng giống đực trong tiếng Nga (грех). Tương tự như vậy, một đứa trẻ Nga, khi đọc một bản dịch những truyện cổ của Đức, đã kinh ngạc thấy rằng cái Chết (Death), rõ ràng là một phụ nữ (Nga, смерть, giống cái), nhưng đã được vẽ hình như một ông già (Đức, der Tod, giống đực.). My Sister Life, là tên gọi của một tập thơ của Boris Pasternak, là khá tự nhiên trong tiếng Nga, trong đó “life” – “cuộc sống” là giống cái (“жизнь”), nhưng cũng đủ để thu xuống thành thất vọng cho nhà thơ Czech Josef Hora, trong nỗ lực của ông để dịch những bài thơ này, bởi vì trong tiếng Czech, danh từ này là giống đực (“život”).

 

Câu hỏi đầu tiên đã xuất hiện trong văn học Slavic buổi ban đầu của nó là gì? Thật là đủ lạ lẫm, sự khó khăn của người dịch gặp phải trong việc bảo tồn những biểu tượng của giới tính, và những râu ria chẳng liên hệ gì từ sự nhận thức của khó khăn này, đã hiện ra là chủ đề chính của công trình gốc Slavic đầu tiên, lời nói đầu của bản dịch đầu tiên của tập Evangeliarium, được thực hiện trong những năm đầu của những năm 860, của Constantine Nhà triết học; người sáng lập những chữ cái Slavic và những nghi lễ thờ phụng, và gần đây đã được A. Vaillant khôi phục và giải thích [41] “Tiếng HyLạp, khi dịch sang ngôn ngữ khác, không thể lúc nào cũng được tái lập giống y như cũ , và điều đó xảy ra với mỗi ngôn ngữ được dịch”, nhà tông đồ Slavic đã tuyên bố. “Những danh từ giống đực ‘sông’ và ‘sao’ trong tiếng Hy Lạp, là giống cái trong ngôn ngữ khác, như “река” và “звезда” trong Slavic.” Theo bình luận của Vaillant, sự khác nhau tách biệt này xóa đi những nhận dạng biểu tượng của những con sông với ma quỷ, và những ngôi sao với những thiên thần, trong bản dịch Slavic của hai câu của bản kinh trong quyển Matthew (7:25 và 2:9). Tuy nhiên, đối với chướng ngại thi ca này, Constantine Nhà-Triết học đã kiên quyết phản đối phương châm của Dionysius Areopagite, người đã kêu gọi cho sự chú ý chủ yếu  đến những giá trị nhận thức (силе разума) và không với bản thân những từ ngữ.

 

Trong thơ ca, những tương đương cân bằng trong lời nói trở thành một nguyên tắc xây dựng của văn bản. những phạm trù cú pháp và hình thái học, ngữ căn, và phụ tố, âm vị và thành phần của chúng (những tính năng đặc biệt) – nói vắn gọn, bất kỳ thành phần nào của mã lời nói – là được đối đầu, xen kẽ, đưa vào mối quan hệ liền kề nhau theo như nguyên tắc về tương tự và về tương phản, và chuyên chở sự biểu hiện ý nghĩa riêng của chúng. Tương tự trong âm vị được cảm nhận như mối quan hệ ngữ nghĩa. Chơi chữ, hoặc sử dụng một thuật ngữ thông thái hơn, và có lẽ chính xác hơn – phép chơi chữ [42], ngự trị trên nghệ thuật thơ ca, và cho dù sự cai trị của nó là tuyệt đối hoặc hạn chế, thơ theo định nghĩa là không thể dịch được. Chỉ có sự chuyển vị sáng tạo là có thể được [43]: hoặc chuyển vị cùng ngôn ngữ – từ một hình dạng thi ca sang một hình dạng khác, hoặc chuyển vị khác ngôn ngữ – từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, hoặc cuối cùng, chuyển vị khác ký hiệu – từ một hệ thống ký hiệu này sang hệ thống ký hiệu khác, lấy thí dụ như, từ nghệ thuật dùng lời nói sang âm nhạc, khiêu vũ, phim ảnh, hoặc tranh vẽ.

 

Nếu như chúng ta dịch sang tiếng Anh công thức truyền thống “Traduttore, traditore” là “the translator is a betrayer” – “người dịch là một người phản bội” – [44], chúng ta sẽ tước đi mất hết vần điệu dí dỏm của tiếng Ý cùng tất cả những giá trị trào phúng của nó. Thế nên từ đây, một thái độ nhận thức sẽ buộc chúng ta thay đổi câu cách ngôn này vào một phát biểu rõ ràng hơn và để trả lời những câu hỏi: người dịch của những thông điệp nào? Kẻ phản bội của những giá trị nào?

 

Roman Jakobson (1959)

Advertisements
Standard
Copywriting

Cuốn The Copywriter’s Handbook (1985-2006) của Robert W. Bly

CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU VỀ COPYWRITING 

“A copywriter is a salesperson behind a typewriter”
Judith Charles.

Nhầm lẫn to lớn nhất mà một copywriter mắc phải là đánh giá một chiến dịch quảng cáo như những người ngoại đạo. Nếu như vậy thì bạn chỉ là một nghệ sĩ hay người trình diễn chứ không phải người bán hàng. Và như vậy thì copy của bạn chỉ làm tốn thời gian, tiền bạc của client mà thôi.

Một người ngoại đạo có thể thích, ghét, tranh cãi về một quảng cáo, nhưng nếu một người quảng cáo đủ thông minh thì sẽ hiểu là mục tiêu của quảng cáo không phải nằm ở đó, nếu được thì tốt thôi, mà nằm ở kết quả: rằng doanh số bán hàng có tăng nhờ quảng cáo ấy hay không.

Đây là điều đơn giản và rõ ràng nhất, nhưng phần đông những copywriters cũng như những người làm quảng cáo chuyên nghiệp có vẻ quên mất điều đó. Họ tạo ra những quảng cáo đầy nghệ thuật, những catalogs bắt mắt, và những phim quảng cáo có chất lượng thậm chí còn vượt trội hơn cả một bộ phim nghệ thuật. Nhưng đôi khi họ lại quên mất mục tiêu của mình – bán hàng, và rằng họ là người bán hàng chứ không phải là nhà văn, nhà làm phim, nghệ sĩ trình diễn…

Vốn có tính nghệ sĩ, những người viết quảng cáo dễ bị thu hút bởi những gì đẹp và thẩm mỹ. Nhưng một quảng cáo đáo đẹp không có nghĩa là nó thuyết phục người ta mua hàng của mình. Đôi khi những quảng cáo với chi phí sản xuất thấp, được viết một cách đơn giản và trực tiếp mà không cần quá bóng bẩy, lại có hiệu quả bán hàng cao hơn.

Tôi không nói rằng quảng cáo của bạn phải “rẻ tiền” hay rẻ tiền thì mới hiệu quả. Tôi muốn nói rằng hình thức của quảng cáo nên được định hình bởi và phục vụ cho sản phẩm hay dịch vụ; chứ không phải là chạy theo những cái gì là thời thượng trong lĩnh vực quảng cáo; hay là thỏa mãn tính thẩm mỹ với những nghệ sĩ xem việc bán hàng như là một cái gì xấu xa phải tránh đưa vào quảng cáo bằng mọi giá.

Trong một chuyên mục của tạp chí Direct Marketing, freelance copywriter Luther Brock dẫn ra một ví dụ về sự mâu thuẫn giữa việc sáng tạo trong quảng cáo với việc bán hàng. Brock kể về một công ty in ấn tiêu tốn rất nhiều tiền để có một mẫu quảng cáo direct-mail thật hay. Mẫu quảng cáo này đưa hình ảnh một cái brochure bắt mắt, 4 màu, thiết kế kỹ lưỡng, với một cửa sổ bật lên. Nhưng nó lại phản tác dụng hoàn toàn:

Họ được khen nhiều về cái quảng cáo direct-mail độc đáo đó. Nhưng không nhận được một đơn hàng nào cả. Trong khi đó phải trả phi quảng cáo quá cao. Nhưng cái mail tiếp theo chỉ đơn giản là một thư bán hàng 2 trang và một thiếp trả lời. Vậy mà lại có đến 8% phản hồi.

Là một người làm sáng tạo, bạn muốn viết một nội dung thật hay ho và hấp dẫn. Nhưng là một người làm việc chuyên nghiệp, bạn phải có trách nhiệm làm tăng doanh số bán hàng của client với chi phí thấp nhất. Nếu một classified ad (quảng cáo chiếm 1 góc nhỏ trong trang báo) có hiệu quả một full-page ad, hãy tận dụng. Nếu một simple typewritten letter (thư viết đơn giản) hiệu quả hơn một brochure 4 màu, hãy gửi thư.

Thực tế, một khi bạn nhận ra mục tiêu của quảng cáo là bán hàng (Luther Brock định nghĩa bán hàng là “đặt 100% sự tập trung vào cách mà người đọc quảng cáo sẽ mua hàng, trở thành đối tác với bạn”), bạn sẽ thấy rằng có một thách thức về sáng tạo trong viết quảng cáo đó là phải viết sao cho bán được hàng. Thách thức này khác với thách thức về nghệ thuật: thay vì tạo ra những tuyên ngôn, lời nói đầy tính mỹ miều, hãy đào sâu vào sản phẩm và dịch vụ, lật mở những lý do tại sao khách hàng muốn mua sản phẩm, và thể hiện nội dung quảng cáo sao cho đọc được, hiểu được và có hiệu quả; những nội dung thật thuyết phục khiến khách hàng không thể không mua sản phẩm mà bạn muốn quảng cáo.

Hiển nhiên, Judith Charles và tôi không phải là những người duy nhất có niềm tin là mục tiêu của copywriting là bán hàng. Đây là suy nghĩ của nhiều người khác:

Định nghĩa của tôi nói rằng một quảng cáo phải có mục đích cao xa hơn là thuần túy giải trí. Mục đích đó là đối mặt với việc bán hàng bằng cách thông qua những thộng điệp hợp lý về đặc tính của sản phẩm/dịch vụ, thuyết phục những người đang và sẽ mua hàng/sử dụng dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh chuyển sang mua hàng/sử dụng dịch vụ của mình. Đó chí ít nên là căn bản của quảng cáo. Để hoàn thiện việc này, tôi nghĩ bạn phải hứa rằng cái lợi thế mà người khách hàng chỉ có khi dùng sản phẩm/dịch vụ của mình là tối quan trọng, đủ để anh ta đổi ý.

Hank Seiden, Vice President, Hicks & Greist, New York.

Suốt nhiều năm trời, một bộ phận của ngành quảng cáo đã đưa quảng cáo ra khỏi cái cốt lõi của nó; họ gán cho hình thức của quảng cáo một thứ tính chất xa vời, không xuất phát từ thực tế của việc bán hàng. Kết quả là: quá nhiều quảng cáo giống với một vở nhạc kịch hạng ba, tuyệt vọng kêu gọi khách hàng với những câu đùa cũ rich hoặc những điệp khúc xưa cũ. Ở cấp độ cơ bản nhất, nghành quảng cáo bao gồm việc nắm bắt một sản phẩm, nghiên cứu về nó, tìm hiểu sự đặc trưng của nó và sau đó giới thiệu cái đặc trưng này tới người mua hàng tiềm năng.

Alvin Eicoff, Chairman, A.Eicoff & Company.

Những ai đọc các phê bình về quảng cáo khắp thế giới cũng đều bị vấp phải một sự thật là chúng không thực sự là những phê bình về quảng cáo, mà đúng hơn là những phê bình về năng lực của giám đốc sáng tạp, hay của một bộ phim. Có lẽ nguyên tắc, tri thức sơ đẳng nhất cho mọi người làm sáng tạo quảng cáo ở bất cứ đâu là một người nội trợ trung bình không biết rằng một agency quảng cáo, một giám đốc sáng tạo, một giám đốc chỉ đạo nghệ thuật, hay một copywriter có tồn tại. Họ chỉ quan tâm về việc có mua sản phẩm hay không, chứ không phải là những giám đốc sáng tạo.

Keith Monk, Nestlé, Vevey, Switzerland

Hiển nhiên, tôi chưa bao giờ đồng tình rằng sự sáng tạo là đóng góp to lớn của một agency quảng cáo, và lướt qua những trang tạp chí kinh doanh càng làm sự bất đồng tình của tôi tăng lên khi mà quá nhiều quảng cáo chịu đựng sự sáng tạo quá lố – nhằm mục tiêu tăng lượt đọc hơn là cho sự hoàn thiện của những công việc truyền thông cụ thể. Thậm chí tệ hơn là, sáng tạo chỉ để tự thỏa mãn.

Howard Sawyer, Vice President, Marsteller, Inc.

(…)

Nếu tồn tại hai trường phái trong quảng cáo – vị bán hàngvị sáng tạo, tôi sẽ đứng về phía cái đầu tiên. Và cũng như những chuyên gia đã bày tỏ ý kiến ở trên.

Cuốn sách The Copywriter’s Handbook được viết để dạy bạn cách viết copy bán được hàng. Vì copy để thuyết phục khách hàng mua sản phẩm, phải đảm bảo ba việc sau:

  1. Get attention – thu hút chú ý
  2. Communicate – giao tiếp, đối thoại
  3. Persuade – Thuyết phục

Chương 2 chỉ bạn cách viết copy thu hút sự chú ý, bạn sẽ học về cả Headlines và hình ảnh như là những công cụ thu hút sự chú ý (và bạn sẽ học được cách kết hợp chúng với nhau)

Chương 3 tập trung vào việc viết để đối thoại. Nó cung cấp những nguyên tắc viết rõ ràng, súc tích và đơn giản để truyền đạt thông điệp của bạn đến người đọc.

Chương 4 là những chỉ dẫn về thuyết phục trong writing. Nó dạy bạn cách trở thành một người bán hàng giỏi cũng như một người viết.

Chương 5 là những chỉ dẫn từng bước giúp bạn chuẩn bị hiệu quả mọi bài tập về copywriting.

Chương 6 đến chương 12, bạn sẽ học được cách áp dụng những nguyên tắc này trong nhiều kênh truyền thông khác nhau, cả online lẫn offline.

Chương 13 14 sẽ nói về ngành copywriting, về cách để kiếm việc, cun4ng như cách làm việc với những copywriters nếu bạn là khách hàng.

Chương 15 nói về vai trò của copywriter trong Graphic Design và Layout.

MẠNG INTERNET CÓ THAY ĐỔI COPYWRITING?

Câu trả lời là “có”. Mạng Internet đã cách mạng hóa ngành marketing thông qua tốc độ, sự tiện lợi và giá thành rẻ của nó: chiến dịch marketing gửi email nhanh hơn, dễ dàng hơn và ít tốn chi phí hơn là truyền đi cùng một chất liệu quảng cáo qua thư tay hay quảng cáo trên báo in hoặc truyền hình.

Nhưng điểm quan trọng là việc tiếp cận quảng cáo online thay vì offline không thay đổi bản chất con người, hay tâm lý mua hàng của con người. Claude Hopkins viết trong cuốn Scientific Advertising:

Bản chất con người là bất biến. Ở nhiều phương diện, con người ngày nay và thời Caesar chẳng khác nhau mấy. Do đó các nguyên tắc về tâm lý vẫn cố định và bền vững. Bạn sẽ chẳng bao giờ cần phải học lại những gì đã được học về con người.

Nhưng Internet có thay đổi copywriting, và đây là nhu74nng thay đổi nó mang lại:

  1. Internet, máy vi tính, trò chơi điện tử và những phương tiện truyền thông điện tử khác tạo ra một sự suy giảm đáng kể trong khoảng thời gian tập trung của con người. Súc tích là một đặc tính quan trọng của viết, nhưng ngày nay nó càng quan trọng hơn. Điều này không có nghĩa là copy dài không có tác dụng, hay người ta không còn đọc nữa, hay là mọi copy đều phải giản tiện. Mà nó có nghĩa là bạn phải tuân thủ những lời khuyên sáng suốt của Strunk và White trong cuốn The Elements of Style và “loại bỏ những từ không cần thiết”, giữ cho copy của bạn “sạch sẽ”, súc tích.
  2. Người đọc bị tấn công ồ ạt bởi những tin nhắn quảng cáo và sự quá tải thông tin hơn bất cứ lúc nào trong lịch sử loài người. Rutherford D. Rogers, thủ thư ở Yale, đã nói rằng, “Chúng ta đang chết đuối trong thông tin và vẫn đói kiến thức”. Điều này có nghĩa là bạn phải cố gắn khiến copy của bạn liên hệ đến người đọc, hiểu rằng thứ gì khiến họ thao thức bào buổi tối, nhấn mạnh nhu cầu, khao khát, mong muốn và sợ hãi của họ trong quảng cáo của bạn.
  3. Internet đã khiến người mua hàng trở nên dè chừng hơn, chán ghét quảng cáo; dễ dàng nhận ra sự cường điệu, dễ hoài nghi và thích những loại tin quảng cáo có thông tin: những quanng3 cáo tôn trọng sự thông minh của họ; không đối thoại một cách trên đầu trên cổ họ, và truyền đạt thông điệp mà họ nhận thấy như là có giá trị trong việc giải quyết các vấn đề của họ hay là giúp họ trong quyết định mua hàng.
  4. Khách hàng bận rộn và có ít thời gian hơn bao giờ hết. Do đó, sự tiện lợi và tốc độ truyền đạt là điểm lợi nhuận quan trọng ngày nay, bởi vì chúng tiết kiệm thời gian.
  5. Marketers ngày nay có thể lựa chọn việc đưa sản phẩm của họ online hay offline qua sản phẩm in ấn, hoặc cả hai.

Trong xã hội hiện đại, copywriting là một kỹ năng càng cần phải trau dồi hơn – cả online lẫn offline. Vì sao? Người mua hàng ngày nay được học hành bài bản hơn và hoài nghi hơn, Nhờ vào Internet, họ dễ dàng tiếp cận những thông tin về sản phẩm cũng như so sánh giá cả của nhiều shop khác nhau. Có nhiều sản phẩm và thương hiệu để lựa chọn hơn bao giờ hết, và cũng có nhiều thông điệp quảng cáo – commercials, e-mail, pop-up ads, mailers – cạnh tranh nhau để giành lấy sự chú ý của chúng ta.

Lấy direct mail làm ví dụ. Với chi phí ngày càng tăng về postage, printing và list, và tỉ suất phản hồi ngày càng giảm, càng khó hơn bao giờ hết để có sự kiểm soát mạnh mẽ thư tín.

Tệ hơn là, khách hàng của chúng ta bị tấn công bởi quá nhiều thông điệp truyền thông mỗi ngày. Khi có quá nhiều sự cạnh tranh trong lĩnh vực truyền thông, bạn phải làm việc cật lực hơn vao giờ hết để chắc rằng thư tín của mình – dù là online hay print – đều nổi bật và thu hút sự chú ý của khách hàng. Và hiển nhiên nó có nghĩa duy nhất là: strong copy, copy phải mạnh.

Đúng vậy, lists và offers rất quan trọng,nhưng bạn có thể xác định, một cách nhanh chóng và dễ dàng, list nào và offers nào là tốt nhất cho sản phẩm của mình. Một khi bạn tìm thấy một list đúng đắn và những offers đúng rồi, thì cái đòn bẩy hiệu quả nhất của bản để tăng phản hồi là qua copy.

Viết cũng rất quan trọng với thành công của Web. Nick Usbome chỉ ra trong cuốn Net Words, “Hãy vào website ưa thích của bạn, loại bỏ hết những sự hào nhoáng về hình thức và chỉ đối mặt với từ ngữ – cách duy nhất và tốt nhất để bạn làm nổi bật chính mình trên mạng”. Trong marketing, dù là online hay offline, chữ nghĩa vẫn là quan trọng nhất.

 

CHƯƠNG 2
TẠO ĐƯỢC SỰ CHÚ Ý TRONG COPYWRITING

Dkjd

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 18

Ngữ điệu có các chức năng sau:

i) Ngữ điệu cho phép chúng ta thể hiện cảm xúc và thái độ khi nói, điều này tạo ra một sắc thái nghĩa cho ngôn ngữ nói. Chức năng này gọi là chức năng tình thái, attitudinal function.

ii) Ngữ điệu giúp tạo ra sự tương phản về cường độ, trường độ, cao độ giữa các âm tiết, giúp nhấn mạnh những âm tiết hay từ vựng mà người nói muốn nhấn mạnh. Đây gọi là chức năng nhấn mạnh, accentual function.

iii) Ngoài ra, ngữ điệu là dấu hiệu nhận biết cấu trúc ngữ pháp trong văn nói, nó thể hiện ranh giới giữa các ngữ, các mệnh đề, hoặc các câu; nó thể hiện thể khẳng định và nghi vấn, và nó còn thể hiện được các yếu tố chính-phụ của cấu trúc câu nói. Đây là chức năng ngữ pháp, grammatical function, của ngữ điệu.

iv) Nhìn rộng hơn, ngữ điệu ra dấu cho người nghe biết thông tin nào đã được cho biết, thông tin nào là mới, có thể giúp người nghe đối chiếu, liên kết các dữ liệu trong giao tiếp, cho họ biết rằng họ phải nói gì tiếp theo cho phù hợp tình huống. Chức năng đàm thoại, discourse function, là chức năng này của ngữ điệu.

Chức năng tình thái (attitudinal function) của ngữ điệu:

dd

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 17

Trong chương trước chúng ta đã nói về cách biến đổi cao độ trong những phần đuôi theo sau âm tiết tông trong trường hợp âm tiết tông là rising tone và falling tone. Tiếp sau đây chúng ta sẽ nói về trường hợp âm tiết tông là fall-rise và rise-fall.

Phần đuôi của tông fall-rise và tông rise-fall

Sự nối dài của tông từ âm tiết tông sang đuôi ở những trường hợp fall-rise tone và rise-fall tone khá phức tạp. Chẳng hạn, khi thêm vào đơn vị tông chỉ có một âm tiết sau:

 ̬ some

một phần đuôi là 1 âm tiết nữa, thành:

 ̬ some ·men

thì tông fall-rise này sẽ được phân bố cho hai âm tiết: phần fall rơi vào âm tiết ‘some’ và phần rise rơi vào âm tiết ‘men’. Trong trường hợp này, khi giữa âm tiết thứ nhất và âm tiết thứ hai không có một phụ âm vô thanh chen giữa gây ra nhịp ngắt của tông thì kết quả thu được là một sự chuyển tông diễn ra liên tiếp tương tự như ở đơn vị tông một âm tiết (\/).

 ̬ some ·chair

Còn trong trường hợp giữa hai âm tiết có chèn một phụ âm vô thanh, khiến cho tông bị ngắt quãng. (\ /)

Tuy nhiên, nhiều người nói tiếng Anh hầu như cảm thấy sự chuyển tông trong trường hợp này không khác gì trong hai trường hợp trước. Sự tương đồng này giống với sự hợp vần mà người ta vẫn thấy như giữa từ ‘balloon’ với từ ‘moon’, và người ta gọi nó là tonal rhyme (sự hợp vần tông). Theo đó  ̬ some ·chair hợp vần tông với  ̬ some.

Khi đuôi có từ hai âm tiết trở lên, thì cũng tương tự như trên, phần fall của tông vẫn rơi vào âm tiết tông, còn phần rise sẽ rơi vào âm tiết nhấn cuối cùng ở phần đuôi. Tông sẽ vẫn giữ ở cao độ thấp khi rơi xuống ở âm tiết tông, cho đến khi gặp âm tiết được nhấn cuối cùng của phần đuôi thì sẽ được nâng lên đến khi kết thúc đơn vị tông. Nếu không có âm tiết nào được nhấn ở phần đuôi, phần rise sẽ rơi vào âm tiết cuối. Sau đây là một số ví dụ:

i) I  ̬ might  ·buy it

I  ̬ might have ·thought of ·buying it

ii)  ̬ most  of them

̬ most  of it was for them

 

Với tông rise-fall tone, chúng ta cũng thấy tương tự: phần rise rơi vào âm tiết tông, và phần fall được phân bố ở phần đuôi đơn vị tông.

 ̭ no  (/\)

 ̭ no one (/\)

 ̭ no sir (/ \)

Khi có nhiều hơn một âm tiết, âm tiết liền sau âm tiết tông sẽ luôn có cao độ cao hơn âm tiết tông và những âm tiết còn lại sau nó sẽ có cao độ thấp. Chẳng hạn:

 ̭ beautiful  (/ – _ )

 ̭ all of them went (/ – _ _ )

 ̭ thats a nice way to speak to your mo ther (/ – _ _ _ _ _ _ _ _)

Người nói không có lựa chọn nào khác cho sự chuyển tông của phần đuôi. Cao độ phần đuôi thế nào phụ thuộc vào tông được chọn cho âm tiết tông.

 

Phần đầu cao và thấp

Cao độ của phần đầu đơn vị tông có thể là high head, khi âm tiết nhấn ở đầu phần head có cao độ cao hơn cao độ của âm tiết tông. Chẳng hạn:

The ‘bus was late ( _ – – \ )

Is ‘that the end ( _ – – /)

Nó cũng có thể là low head, khi âm tiết nhấn của phần head có cao độ thấp hơn cao độ của âm tiết tông. Ký hiệu của nó là (‚). Chẳng hạn:

The ,bus was late ( _ _ _ \ )

Is ,that the end ( _ _ _ / )

Những âm tiết không nhấn theo sau âm tiết nhấn trong phần head sẽ tiếp nối cái cao độ của âm tiết nhấn. Trong những ví dụ sau, những âm tiết không nhấn ‘if it had’ có cao độ giống như cao độ của âm tiết nhấn ‘asked’.

We ‘asked if it had come ( _ – – – – \ )

We ,asked if it had come ( _ _ _ _ _ \ )

Nếu có nhiều hơn môt âm tiết nhấn ở phần head, sẽ có sự chuyển nhẹ về cao độ từ âm tiết nhấn đầu sang âm tiết nhấn kế, sao cho hướng đến cao độ khởi đầu của âm tiết tông. Chẳng hạn những ví dụ sau:

The ‘rain was ‘com ing ‘down ‘fairly hard ( _ ¯ ¯ –  – – _ _ \ )

Ta có thể thấy trog ví dụ trên cao độ trượt dần từ âm tiết nhấn đầu tiên tới cao độ mở đầu của âm tiết tông ‘hard’. Còn trong ví dụ sau, vì âm tiết tông bắt đầu bằng cao độ thấp, nên toàn bộ phần trước đều giữ nguyên cao độ thấp.

,Thats ,not the ,story you ,told in court ( _ _ _ _ _ _ _ _ / )

Tương tự, với low head theo sau là falling tone:

,I could have ,bought it for ,less than a pound ( _ _ _ –  – – ¯ ¯ ¯ \ )

Và high head theo sau là rising tone:

‘Will there be a’nother ‘train  later (¯ ¯ ¯ ¯ –  – _ /)

Hiển nhiên thực tế khi khảo cứu về intonation của những phần đầu nhiều âm tiết ta sẽ thấy chúng có rất nhiều biến thể. Nhưng trên đây là những quan sát phổ quát nhất.

Nhiều người cho rằng đường hướng cơ bản, thông thường nhất của mọi intonation là luôn bắt đầu từ một tông cao sao đó hạ dần xuyên suốt utterance. Đây gọi là declination. Quan điểm cho rằng declination là một đặc tính của mọi ngôn ngữ là một quan điểm khá nổi trội. Nhưng tốt hơn hết chúng ta nên xem xét quan điểm này thông qua các chứng cứ ngữ liệu quan sát được.

Hai ký hiệu ‘ và , được dùng nhiều trong cuốn sách này với những mục đích khác nhau. Khi nói về trọng âm (stress), ‘ dùng để chỉ trọng âm chính, và , dùng để chỉ trọng âm phụ. Khi nói về ngữ điệu (intonation), ‘ dùng để biểu thị high head trong đơn vị tông và , biểu thị low head. Miễn là chúng ta phân biệt rõ khía cạnh ngữ âm được nói đến là trọng âm hay ngữ điệu, những ký hiệu này sẽ không bị nhầm lẫn.

Về sự nhập nhằng giữa trọng âm và ngữ điệu, cần làm rõ điều sau. Khi xem xét lời nói ở cấp độ đơn vị tông, cái cần quan tâm không phải là sự khác biệt về nhấn mạnh giữa các âm tiết trong một từ riêng lẻ, mà là sự khác biệt về nhấn mạnh giữa các âm tiết nhấn với các âm tiết không nhấn trong một đơn vị tông.

Những vấn đề của phân tích hình thức ngữ điệu (form of intonation):

Xác định âm tiết tông:

Chúng ta đã thấy rằng một tông có thể kéo dài từ âm tiết tông sang phần đuôi của nó, do đó không dễ để xác định âm tiết tông. Mặt khác, một trong năm tông là level tone, vốn không có sự thay đổi về cao độ. Do đó, chỉ có thể nói trong những trường hợp như trên, âm tiết tông được xem là âm tiết nổi bật nhất về cường độ, trường độ.

Thêm nữa, đôi khi một số đơn vị tông có chứa đến 2 âm tiết tông, nghĩa là trường hợp tông rise-fall hoặc fall-rise được phân bổ vào 2 âm tiết liền nhau:

(i) I’ve seen  him 

Có quan điểm cho là trường hợp trên vốn dĩ là:

(ii) I’ve  ̬ seen him 

Nhưng thực sự chúng khác nhau. Trước hết âm tiết ‘him’ ở (i) được nhấn mạnh tương đương với ‘seen’ nên nó phải phát âm như một strong form là /him/ chứ không được ở dạng weak form là /im/. Và về sắc thái biểu đạt cũng khác nhau, (i) có thể được nói trong một hội thoại khi nghe tên ai đó:

A: John Cleese is a very funny actor.

B: ‘Oh ,yes | I’ve seen him 

Còn (ii) giống như người nói có gì đó dè dặt hoặc còn điều gì đó nữa cần nói:

A: Have you seen my father yet?

B: I’ve  ̬ seen him | but I ‘havent had ‘time to talk to him.

Ta cũng thấy điều tương tự với âm tiết ‘her’ trong ví dụ sau:

I’ve seen  her 

I’ve  ̬ seen her

Xác định ranh giới giữa các đơn vị tông:

Về mặt ngữ pháp, có thể xác định ranh giới giữa các câu trong một lời thông qua những dấu hiệu về ngữ pháp như chấm câu. Tương tự, trong ngữ âm học siêu đoạn tính, ta cũng có thể xác định ranh giới giữa các đơn vị tông trong một lời thông qua những dấu hiệu về ngữ âm và âm vị. Tuy nhiên, việc rút ra quy luật cho sự phân biệt này rất khó, trừ khi có nhịp nghỉ rõ ràng giữa hai đơn vị tông.

Có hai nguyên tắc được nêu ra: một là có thể xác định dựa trên sự thay đổi đột ngột về cao độ khi một đơn vụ tông kết thúc và nhận ra sự bắt đầu của môt đơn vị tông khác khi người nói trở lại cao độ thường thấy ở phần đầu đơn vị tông; hai là tính nhịp điệu, trong một đơn vị tông, tiếng nói có một nhịp điệu thông thường, nhưng nhịp điệu ấy bị phá vỡ hoặc ngắt quãng ở những ranh giới đơn vị tông. Cả hai nguyên tắc trên đều hữu hiệu nhưng trong thực tiễn  phân tích ngữ điệu, không có một chứng cứ nào đủ thuyết phục để kết luận là hai nguyên tắc trên tuyệt đối đúng.

Những đơn vị tông bất quy tắc

Mọi mô tả khái quát dù có đầy đủ đến đâu cũng vẫn không bao hàm được hết các ngoại lệ, các mô tả ngữ điệu cũng vậy. Chẳng hạn, đôi khi người ta còn thấy những tông như fall-rise-fall hay rise-fall-rise. Hoặc ở phần đầu, người ta đôi khi thấy những âm tiết nhấn không phải lúc nào cũng toàn là high hoặc toàn là low. Chẳng hạn:

,After ,one of the ‘worst ‘day of my ̬ life

Và đôi khi, lời người nói bị ngắt và khiến cho một đơn vị tông bị dừng nửa chừng, chẳng hạn, thiếu âm tiết tông.

Tuy nhiên, với kiến thức về ngữ điệu, ta vẫn có thể phiên mã, xác định và nhận diện được các trường hợp bất quy tắc này.

Xem xét ngữ điệu một cách đoạn tính:

Gần đây, một cách phân tích ngữ điệu mới xuất hiện và thịnh hành là autosegmental, xuất hiện nhiều trong các nghiên cứu ở Mỹ. Theo hướng phân tích này, mọi biến đổi của ngữ điệu được quy về hai trạng thái đối cực là H (high tone) và L (low tone). Theo đó, fall tone sẽ là HL, chẳng hạn. Những âm tiết nhấn đều phải được đánh dấu là H hoặc L, hoặc kết hợp cả hai. Ranh giới có nhịp nghỉ (||) giữa các đơn vị tông được kí hiệu là %, và đặt ngay sau H hoặc L. Ví dụ “Its time to leave” sẽ được phiên mã là:

           H         H L%
Its time to leave

Ranh giới không có nhịp nghỉ (|) được kí hiệu là –, và cũng đặt sau H hoặc L.

           L                               L H–                H                       H L– L%
we looked   at   the         sky         and saw     the          clouds

Theo đó, ví dụ

 ̬ most of them

sẽ được phiên mã thành:

       H                   L– H%
most      of       them

 

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 16

Đơn vị tông (the tone-unit)

Tiếng Anh không phải là ngôn ngữ có thanh điệu (tone language). Do đó, cách phân tích chức năng và sự phân bố của tông trong Tiếng Anh khác với trong những ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Việt. Trong những ngôn ngữ có thanh điệu, người ta phân tích tông dựa trên việc khảo cứu từng đơn vị của ngữ âm học là âm tiết, xem xét mỗi âm tiết như là một đối tượng có thể biến đổi một cách độc lập về thanh điệu để mang nghĩa khác. Trong tiếng Anh, số lượng từ vựng 1 âm tiết có thể biến đổi sắc thái nghĩa khi biến đổi tông của chúng rất ít, chẳng hạn như từ ‘yes’ và ‘no’ ở chương 15. Việc phân tích tông trong tiếng Anh, theo đó, vượt lên trên phạm vi một âm tiết, do đó cần một đơn vị khác cho tông. Đó là đơn vị tông (tone-unit).

Một đơn vị tông chứa ít nhất 1 âm tiết. Cách định nghĩa khái niệm đơn vị tông tốt nhất là thông qua ví dụ minh họa. (vì trong khi nói, intonation biểu thị dấu câu, nên trong những ví dụ được ký hiệu về tông sau không cần phải đưa thêm dấu câu. Những âm tiết có chứa tông sẽ được gạch chân.):

is it ′you

Trong ví dụ trên, âm tiết thứ ba mạnh hơn hai âm tiết còn lại vì có chứa một tông: rising tone. Hai âm tiết đầu thường nhẹ hơn và được cho là có cao độ không đổi. Vậy tại sao chúng ta không nói rằng hai âm tiết ‘is’ và ‘it’ chứa tông ngang, level tone? Bởi vì nếu nói rằng các âm tiết trên chứa tông ngang, thì các âm tiết ấy sẽ cũng được nhấn mạnh như âm tiết ‘you’.

Chẳng hạn trong tiếng Trung Phổ Thông, từ mäma chứa hai âm tiết, âm tiết đầu mạnh, có thanh ngang; âm tiết sau nhẹ, vô thanh. Nếu âm tiết sau cũng chứa thanh ngang, nghĩa là nó sẽ mạnh như âm đầu, thì nó sẽ bị biến đổi nghĩa. Còn trong tiếng Anh, trong ví dụ trên, nếu nhấn cả ‘is’ và ‘it’, câu nói đó sẽ không tự nhiên mà như là đang cố gắng nói chậm và to ra cho một người lãng tai hiểu vậy.

Âm tiết có chứa tông gọi là âm tiết tông (tonic syllable). Những âm tiết chứa tông được nhấn mạnh hơn âm tiết không chứa tông. Một âm tiết tông không chỉ mang tông, mà nó còn được nhấn mạnh bằng trường độ, cường độ so với các âm tiết không mang tông trong câu nói. Sự nhấn mạnh này được gọi là nhấn tông (tonic stress). Một số người gọi dùng thuật ngữ nucleus và nuclear stress thay vì là tonic syllable và tonic stress.

Ví dụ trên có thể được mở rộng như sau:

John is it ′you

Fall-rise tone thường gặp khi gọi tên ai đó. Nếu có một nhịp nghỉ giữa ‘John’ và ‘is it you’ thì có 2 utterances ở đây. Nhưng chúng ta sẽ xem xét nó như một utterance.

Và utterance này được chia làm hai đơn vị tông: ‘john’ và ‘is it you’.

Có thể thấy rằng đơn vị tông có mối quan hệ thứ bậc (hierarchical relationship) với các đơn vị ngữ âm khác: một diễn ngôn (speech) bao gồm một hoặc nhiều lời nói (utterances), mỗi một lời nói gồm một hoặc nhiều đơn vị tông (tone-unit), mỗi một đơn vị tông bao gồm một hoặc nhiều feet, mỗi một foot bao gồm một hoặc nhiều âm tiết (syllables), mỗi một âm tiết bao gồm một hoặc nhiều âm vị (phonemes).

Cấu trúc của đơn vị tông:

Ở chương trước, ta chỉ mới đề cập đến một bộ phận cấu thành của đơn vị tông là âm tiết tông. Hầu như mọi đơn vị tông đều thuộc dạng đơn (simple), những dạng phức (compound) không được trình bày ở chương này. Mỗ đơn vị tông dạng đơn (simple tone-unit) luôn có một và chỉ một âm tiết tông; nói cách khác, âm tiết tông là bộ phận không thể thiếu và duy nhất của một đơn vị tông. (cũng giống như vai trò của nguyên âm trong âm tiết vậy). Ngoài âm tiết tông, đơn vị tông còn chứa:

The head – phần đầu đơn vị tông:

Đây là một utterance chỉ gồm 1 âm tiết tông:

those

Utterance sau gồm 1 đơn vị tông, và trong đó có 1 âm tiết tông như trên:

‘give me those

Toàn bộ phần đứng trước âm tiết tông trong đơn vị tông được xem là phần đầu (head). Mỗi một head được bắt đầu bằng một âm tiết nhấn (stressed syllable), như âm tiết ‘give’ ở trên. Head là bộ phận kéo dài từ âm tiết nhấn đầu tiên cho đến âm tiết tông. Nếu không có âm tiết nhấn đầu thì không có head.

Trong ví dụ sau, head bao gồm 5 âm tiết đầu:

‘Bill ‘called to ‘give me these

Còn ví dụ sau là một utterance gồm một đơn vị tông, có chứa 1 âm tiết tông nhưng không có head:

in an hour

Trong ví dụ này, hai âm tiết đầu không được gọi là head, mà chúng được gọi là pre-head (phần trước đầu).

The Pre-head, phần trước đầu của đơn vị tông:

Pre-head bao gồm toàn bộ những âm tiết không nhấn trong đơn vị tông đứng trước âm tiết nhấn đầu tiên, tức đứng trước head. Theo đó, phần pre-heads có thể bắt gặp ở 2 trường hợp sau:

i) Khi không có head (không có âm tiết nhấn trước âm tiết tông): như ví dụ ‘in an hour’ ở trên.

ii) Khi có head, như trong ví dụ:

in a ‘little ‘less than an hour

The tail – phần đuôi đơn vị tông:

Trong một đơn vị tông, thường theo sau âm tiết tông có một số âm tiết khác nữa. Toàn bộ những âm tiết từ âm tiết tông đến hết đơn vị tông được gọi là tail, tức phần đuôi của đơn vị tông. Những ví dụ sau sẽ cho thấy điều đó:

look at them

what did you say

both of them were here

Khi cần thiết phải nhấn một âm tiết thuộc phần đuôi, chúng ta phải dùng một ký hiệu đặc biệt là dấu chấm • vì những lí do sẽ được trình bày sau. Theo đó những ví dụ trên sẽ được phiên mã lại như sau:

look at them

what did you ·say

both of them were ·here

Như vậy, các bộ phận của một đơn vị tông có thể được mô tả như sau:

(pre-head) (head) tonic syllable (tail)

Hay

(PH) (H) TS (T)

Những bộ phận trong ngoặc là có thể có hoặc không có. Để minh họa rõ hơn, chúng ta cùng phiên mã một đoạn thoại dài gồm nhiều đơn vị tông sau. Để tách bạch ranh giới giữa các đơn vị tông, tức là kết thúc một đơn vị tông này và bắt đầu một đơn vị tông khác, người ta đôi khi có thể dùng một nhịp nghỉ, đôi khi không. Khi phiên mã, ranh giới giữa hai đơn vị tông sẽ là đường dọc kép (||) nếu có nhịp nghỉ, và sẽ là đường dọc đơn (|) nếu không có nhịp nghỉ.

|| and then ‘nearer to the  ̬ front || on the left | theres a ‘bit of forest | ‘coming ‘down to the waterside || and then a ‘bit of a bay ||

Theo đó, cấu trúc của các đơn vị tông trong đoạn thoại trên được minh họa như sau:

|| PH H TS || PH TS | PH H TS T | H TS  T || PH H TS ||

Đoạn trên gồm 5 đơn vị tông. Đơn vị tông thứ ba có đầy đủ các bộ phận, trong đó từ ‘forest’ gồm 2 âm tiết, âm tiết đầu là âm tiết tông và âm tiết sau là đuôi.

Những trường hợp về cao độ trong đơn vị tông dạng đơn:

Ngữ điệu của một lời nói được tạo ra bởi các đơn vị tông của lời nói đó.

Mỗi một âm tiết tông trong đơn vị tông đều phải chứa một trong 5 tông đề cập đến ở chương trước (rise, fall, rise-fall, fall-rise hoặc level). Nếu âm tiết tông là âm tiết cuối, tông nghe thấy sẽ không khác gì với một đơn vị tông chỉ gồm 1 âm tiết. Chẳng hạn, âm tiết tông ‘here’ trong đơn vị tông có phần đầu sau nghe cũng giống như thể khi nó là âm tiết tông của một đơn vị tông chỉ gồm một âm tiết:

here                                             ‘shall we ‘sit here 

Tuy nhiên, nếu có những âm tiết khác theo sau âm tiết tông, tức là nếu đơn vị tông có phần đuôi, chúng ta sẽ thấy sự chuyển hướng của cao độ trong tông không được đầy đủ trong âm tiết tông. Nếu phần đuôi theo sau một âm tiết tông rising tone, những âm tiết thuộc phần đuôi sẽ tiếp tục nâng lên về cao độ, tức người nói sẽ tiếp tục lên tông sau âm tiết tông rising tone.

Chẳng hạn, âm tiết ‘what’ trong đơn vị tông sau có rising tone, khiến cho phần đuôi theo sau nó cũng đi lên về cao độ:

what did you say

Tương tự như vậy, ta sẽ thấy trường hợp âm tiết tông falling tone khi có phần đuôi cũng sẽ khiến phần đuôi đi xuống về cao độ:

why did you go

Vì level tone thường không xuất hiện trong giao tiếp thông tục thông thường, nên chúng ta không khảo cứu về nó. Đối với các tông rise-fall và fall-rise, chúng ta sẽ nói đến trong chương sau.

 

 

 

 

 

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 15

Các đơn vị ngôn ngữ nói được phân ra thành các đơn vị đoạn tính (segmental) bao gồm nguyên âm và phụ âm, và các đơn vị siêu đoạn tính (suprasegmental) bao gồm trọng âm và ngữ điệu.

Ngữ điệu (intonatiob) là gì?

Rất khó để định nghĩa nhưng tạm xem nó như cao độ của giọng nói (the pitch of the voice) trong câu. Trừ một số trường hợp đặc biệt, hầu như mọi lúc chúng ta nói, cao độ của giọng nói chúng ta không ngừng thay đổi. Một trong những bài tập quan trọng trong phân tích ngữ điệu là lắng nghe cao độ giọng nói của người nói và nhận biết mục đích của nó; đây là một điều không hề dễ dàng và rất khác với việc học các đơn vị đoạn tính. Cao độ được mô tả bởi một thước đo ước lượng với hai điểm nút là cao độ cao (high pitch) và cao độ thấp (low pitch). Một số người khó phân định được sự khác biệt này, cũng giống như một số người khó phân định được nặng-nhẹ hay phải-trái.

Vì cao độ trong giọng nói của một người có thể thay đổi một cách vô chừng và không cố ý, khi nghiên cứu về ngữ điệu trong giọng nói, chỉ nên quan tâm đến những khía cạnh của cao độ giọng nói có ý nghĩa về mặt ngôn ngữ học.

Về cao độ (pitch):

Về mặt cấu âm, cao độ của giọng nói là do sự rung động của dây thanh (vocal folds). Dây thanh rung càng nhanh thì giọng càng cao, và ngược lại. Về mặt vật lý, cao độ hoàn toàn có thể đo đạt được thông qua thông số về tần số cơ bản (fundamental frequency). Tuy nhiên, trong giao tiếp, khái niệm cao độ không chỉ phụ thuộc vào người nói, đo đạt được, mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận của người nghe, không đo đạc được.

Do đó, trong ngôn ngữ học, cao độ buộc phải trước hết cảm nhận được (perceptible) bởi người nghe, thông qua sự đối lập (contrast) giữa giọng cao và giọng thấp. Nhờ sự đối lập này mà ta phân biệt được các cao độ khác nhau.

Dạng thức và chức năng của ngữ điệu:

Đơn vị nhỏ nhất của tiếng nói là âm tiết (syllable), và một chuỗi liên tiếp các âm tiết được phát ra cùng với nhau, ngắt ở đầu và cuối bởi một nhịp nghỉ rõ ràng (clear pause) được gọi là một lời nói (utterance). Trong chương này, chúng ta chỉ bàn về ngữ điệu của một lời nói chỉ gồm 1 âm tiết (one-syllable utterance).

Ngữ điệu của lời nói chỉ gồm 1 âm tiết:

Hai điển mẫu cho lời nói chỉ gồm 1 âm tiết là ‘yes’ và ‘no’. Để mô tả cho biểu hiện của cao độ trong giọng nói, người ta dùng từ tông (tone). Theo đó, tông của một âm tiết có thể không đổi (level tone) hoặc thay đổi (moving tone), gồm lên tông (rising) hoặc xuống tông (falling).

Ngày nay, rất ít người tin là người ta có thể khảo cứu một cách khoa học và đầy đủ về các dạng thức và chức năng của ngữ điệu bởi vì chúng rất đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên, có những nguyên tắc chung nhất có thể được rút ra. Tôi tin rằng người học tiếng Anh ở trình độ cao có thể thông qua khóa học này nhận diện được các nguyên tắc về ngữ điệu của người bản ngữ và bắt chước chúng. Cách tốt nhất để tự nhiên đắc thụ việc vận dụng ngữ điệu như người bản ngữ là sinh ra ở một nước nói tiếng Anh, với người học là người lớn, cần phải luyện tập thông qua việc nghe và nói với người bản ngữ. Có một sự thật gây nản lòng là những ai không có điều kiện giao tiếp thường xuyên với người bản ngữ hay không nghe Tiếng Anh thông tục thường xuyên sẽ không bao giờ có thể nắm bắt được ngữ điệu, ngay cả khi họ rất giỏi về phát âm các đơn vị đoạn tính và trọng âm.

Cách phiên mã ngữ điệu:

High Level             ⁻⁻yes                        ⁻⁻no

Low Level          _ yes                          _no

Falling                 yes                          no

Rising                   yes                          no

Khi thay đổi ngữ điệu trong Tiếng Anh, chỉ có sắc thái biểu đạt là thay đổi, còn ý nghĩa vẫn vậy. Nhưng trong tiếng Việt, nếu thay đổi thanh điệu, một từ sẽ biến thành một từ hoàn toàn khác, chẳng hạn từ ba (thanh ngang) và từ bả (thanh hỏi). Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu (tone language). Tiếng Trung Phổ Thông (Mandarin Chinese) cũng vậy:  ⁻⁻ma nghĩa là mẹ, ma nghĩa là cây gai dầu, ma nghĩa là trách mắng. Vì là một ngôn ngữ không có thanh điệu, rất khó hệ thống hóa tiếng Anh.

Những tông phức (complex tone) và quãng cao độ (pitch height):

Tông không chỉ có level, rise và fall, mà nó có thể biến đổi phức tạp hơn thành fall-rise tone (xuống rồi lên tông) hoặc rise-fall tone (lên rồi xuống tông).

Một điểm phức tạp nữa cần được nêu ra ở đây. Mỗi một người nói có một quãng cao độ của riêng mình khi nói: từ tone cao nhất tới tone trầm nhất. Nhưng trong một số trường hợp, như khi có cảm xúc mãnh liệt, quãng cao độ này có thể mở rộng ra. Chẳng hạn, khi muốn nhấn mạnh, người ta có thể nói từ yes thành \yes. Đối với trường hợp này, chúng ta có thể dùng ký hiệu mũi tên hướng lên ↑ để chỉ sự mở rộng quãng cao độ. Theo đó, hai cách nói từ ‘yes’ trên đây có thể được kí hiệu là:

yes                                     ↑yes

Một số chức năng của ngữ điệu

Fall yes no:
Cách phát âm này vốn dĩ có sắc thái biểu đạt bình thường, trung tính, như câu trả lời cho một câu hỏi yes/no question nào đó và không cần phải nói thêm gì cả. Sự xuống tông tạo cảm giác về sự kết thúc ý.

Rise  yes no:
Sự lên tông tạo cảm giác rằng còn gì đó sẽ cần tiếp nối sau đó trong cuộc nói chuyện. Một ví dụ điển hình là:

A (muốn B chú ý): Excuse me.
B: yes.

Cách nói từ ‘yes’ của B khiến nó có thông điệp khác đi kèm là “what do you want?”.

Một ví dụ khác là:

A: Do you know John Smith?
B: yes.

Cách đáp lời này hàm chứa thông điệp là B có biết John Smith và muốn A tiếp tục điều mà anh ấy muốn nói về John Smith. Lúc này sự lên tông giống như một lời mời người nghe tiếp tục nói. Chẳng hạn:

A: You start off on the ring road…
B: yes.
A: turn left at the first roundabout…
B: yes.
A: and ours is the third house on the left.

Còn với ‘no’. Có ví dụ sau:

A: Have you seen Ann?

Nếu B trả lời no, B không hứng thú với đề tài đó. Còn khi B trả lời no, B muốn A tiếp tục giải thích vì sao cô ấy tìm Ann hoặc tại sao cô ấy không biết Ann ở đâu, đại loại vậy.

Tương tự như vậy, khi ai đó hỏi một câu mà hàm chứa ý muốn sẵn sàng đưa ra một thông tin mới mẻ nào đó.

A: Do you know what the longest ballon flight was?

Nếu B trả lời no, B sẽ tạo cảm giác là anh ta chẳng hứng thú gì với câu đố ấy. Còn với no, B khuyến khích A nói tiếp.

Fall-rise ̬ yes  ̬ no:
Cách phát âm này tạo cảm giác về sự đồng tình phần nào (limited agreement) hoặc đáp lời với sự dè dặt (response with reservations).

A: I’ve heard that it’s a good school.
B: ̬ yes

B không đồng tình hoàn toàn với A, và A có thể sẽ chờ đợi B tiếp tục lí giải tại sao anh ấy đồng ý một cách miễn cưỡng như vậy. Tương tự:

A: It’s not really an expensive book, is it?
B: ̬ no

Sự xuống-lên tông này thể hiện sự không đồng tình hoàn toàn với điều được nói trước đó. Đồng thời cũng thể hiện sự dè dặt hoặc ngần ngại.

Rise-fall ̭ yes ̭ no:

Sự lên-xuống tông này thể hiện cảm xúc đồng tình, hoặc phản bác một cách mạnh mẽ, hoặc cảm giác ngạc nhiên.

A: You wouldn’t do an awful thing like that, would you?
B: ̭ no.

A: Isn’t the view lovely?
B: ̭ yes.

A: I think you said it was the best so far.
B: ̭ yes.

Level _ yes _no:

Cách phát âm này chỉ phản ánh một điều gì mang tính thói quen, không có gì thú vị hoặc nhàm chán. Chẳng hạn, khi được điểm danh, học trò sẽ trả lời ‘yes’ với ngữ điệu không đổi.

 

 

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 1

Đây là bài đầu tiên cho chuỗi những bài viết được dịch và tổng hợp lại từ cuốn English Phonetics & Phonology – A Practical Course của Peter Roach.

Mục đích khóa học:

Bằng lý thuyết về ngữ âm học (phonology) và âm vị học (phonetics), khóa học diễn giải cách phát âm Tiếng Anh theo chất giọng (accent) được xem là tiêu chuẩn trong học Tiếng Anh giao tiếp ở nước Anh.

Tiếp cận thông qua lý thuyết ngôn ngữ học là cần thiết vì nó cung cấp những nguyên lý mang tính phổ quát về việc phát âm tiếng Anh.

Chương trình học:

Âm vị (phonemes) là những âm được sử dụng để phát ra tiếng nói, gồm nguyên âm và phụ âm. Chẳng hạn, ‘pin’ và ‘pen’ có phụ âm giống nhau và khác nhau nguyên âm /i/ và /e/; tương tự như vậy với phụ âm đầu của hai từ ‘pet’ và ‘bet’.

Tiếng Anh khác với tiếng Việt ở chỗ: nếu tiếng Việt nói thế nào thì viết thế ấy – mối quan hệ chỉ có tính một đối một, thì trong tiếng Anh, 1 chữ cái có nhiều cách phát âm và một âm cũng có thể được thể hiện bởi nhiều chữ cái – mối quan hệ không có tính một đối một.

Do đó, nếu học tiếng Việt chỉ cần học bảng chữ cái “a ă â b c…” là có thể vừa phát âm vừa viết chữ, thì người học tiếng Anh phải vừa học bảng chữ cái để viết, vừa học bảng âm vị để phát âm.

Chẳng hạn từ ‘enough’ được phát âm phần đầu giống từ ‘inept’ nhưng phụ âm cuối lại phát âm giống với trong từ “stuff”. Và theo bảng âm vị, khi phiên mã (transcribe) cách phát âm từ ‘enough’, ta có /in^f/.

Bảng âm vị mà chúng ta được học thuộc bảng âm vị Quốc Tế (International Phonetic Alphabet – IPA). Có rất nhiều ngôn ngữ khác cũng có tính chất giống Tiếng Anh, nên việc học bảng âm vị này sẽ giúp ích rất nhiều khi chúng ta muốn khảo cứu cách phát âm của nhiều ngôn ngữ khác từ góc độ Âm vị học của Tiếng Anh.

Chương 1 của khóa học sẽ nói về cách nhận diện và mô tả những âm vị trong Tiếng Anh. Chương 2, 3 nói về nguyên âm. Và Chương 4 nói về phụ âm. Chương 5 nói về bảng âm vị và cách sử dụng những ký hiệu âm vị.

Sau âm vị, khóa học sẽ nói về trọng âm (stress) – về độ nặng của âm tiết và ngữ điệu (intonation) – về cao độ của giọng trong một câu.

Về chất giọng (accents):

Mỗi ngôn ngữ nói đều có nhiều accent (chất giọng – cách phát âm khác nhau của những người thuộc khu vực địa lý, hay văn hóa, xã hội khác nhau). Chẳng hạn, trong tiếng Việt, cùng là một câu “…”, ở miền Bắc phát âm là…, miền Nam phát âm là…. Trong tiếng Anh,

Accent khác với dialect (phương ngữ) ở chỗ dialect là biến thể của một ngôn ngữ, không chỉ bao gồm cách phát âm mà còn bao gồm cả hệ thống từ vựng, ngữ pháp và trật tự từ nữa. Ví dụ… Còn accent thì chỉ là về cách phát âm mà thôi.

Trong khóa học này, accent được dùng làm mẫu để dạy là Received Pronunciation (RP), đây là cái tên đã cũ và có nhiều thiếu sót. Ngày nay, vì nó là giọng quen thuộc của các phát thanh viên thuộc BBC cũng như nhiều kênh truyền hình ở Anh khác, nên nó được gọi bằng cái tên phù hợp hơn là BBC Pronunciation (cách phát âm của BBC).

Khóa học này không dành cho những ai muốn học cách phát âm Mỹ. Cách phát âm Tiếng Anh ở Bắc Mỹ khác với ở Anh. Tuy đôi khi cũng có ngoại lệ, chẳng hạn ở một số vùng của Anh phát âm giọng Mỹ, một số vùng của Mỹ phát âm giọng anh, nhưng nhìn chung thì giọng của phần đông Mỹ khác bởi BBC Pronunciation.

Về cách phát âm của người Anh cũng có nhiều điều cần nói. Đế quốc Anh (Liên hiệp Anh) bao gồm Britain (gồm nước Anh (England), Scotland, xứ Wales) và Bắc Ireland. Mỗi vùng sẽ có một chất giọng khác nhau. Thường cách phát âm của người Anh thường phân biệt giữa miền Bắc (Northern) và miền Nam (Southern). Và ranh giới của sự phân biệt giọng giữa hai miền không hề rõ ràng và còn gây tranh cãi. Nhưng thường những người thuộc vùng Lancashire, Yorkshire hoặc những quận (county) khác ở miền Bắc được xem là nói giọng Bắc. Tuy nhiên, việc học giọng BBC Pronunciation không có nghĩa là giọng này cao quý hơn hay dễ nghe hơn giọng khác, chỉ dơn giản là giọng này được nhiều giáo viên Anh Quốc chọn để dạy tiếng Anh cho người nước ngoài, và đây là giọng được mô tả đầy đủ nhất bởi nhiều tài liệu khoa học và được chọn để dùng trong các giáo trình cũng như từ điển tiếng Anh.

Có một từ được khá thịnh hành ngày nay khi nói về chất giọng Anh Anh là Estuary English (Tiếng Anh vùng cửa sông). Người ta sẽ tưởng rằng đây là loại chất giọng mới xuất hiện. Nhưng không, thuật ngữ này thực tế xuất hiện từ những quan sát của ngôn ngữ xã hội học khi thấy một số người vốn dĩ phát âm giọng BBC nay tiếp nhận một số tính chất của cách phát âm ở vùng Luân Đôn (cửa sông Thames) như là ngắt thanh hầu (glottal stops) – những đặc điểm phát âm vốn trước đây gây bình phẩm hoặc phản đối.

Các lưu ý:

Cách gọi tên BBC Pronunciation được đề xuất trong cuốn Daniel Jones English Pronouncing Dictionary (15th edition; edited and revised by P.Roach & J.Hartman, 1997), trong Trudgill (1999), và Ladeforged (2000).

BBC có khóa học về cách phát âm BBC, nhưng không thể thuyết phục các phát thanh viên sử dụng cách phát âm này. Nếu chúng ta có thể lựa chọn chất giọng mẫu mực, giọng Scotland và Ireland có thể là những ứng cử viên phù hợp hơn, vì mối quan hệ giữa chữ viết và âm gần với nhau hơn là BBC, và chúng cũng có hệ thống nguyên âm đơn giản hơn, và do đó dễ dàng hơn cho nhiều người học ngoại quốc. Tuy nhiên, đây là một khả năng hy hữu vì phần đông giáo viên đều ngần ngại khi áp dụng nhiều accent khác nhau trong lớp học.

Một vấn đề khác cần bàn luận là cách lựa chọn ký tự biểu thị âm vị. Trước đây, có rất nhiều cách đề xuất sử dụng những ký tự khác nhau giữa các tài liệu. Biểu tượng dùng trong khóa này được đề xuất bởi A.C. Gimson trong cuốn Introduction to the Pronunciation of English (1994). Ngày nay, cách dùng ký hiệu này được sử dụng trong hầu như mọi tài liệu về phát âm Tiếng Anh xuất bản ở Anh và có thể xem như tiêu chuẩn thực tế.

Với giáo viên:

Việc dạy phát âm chưa bao giờ phổ biến với những lý thuyết gia về giảng dạy ngôn ngữ, và vào thập niên 70 hoặc 80, nó bị xem là một hoạt động lạc hậu. Người ta cho rằng việc luyện phát âm cho giống người bản ngữ qua những bài tập lặp đi lặp lại chỉ gây nản lòng người học và không có ý nghĩa nhiều với giao tiếp. Gần đây, người ta quan tâm hơn đến việc dạy phát âm và nhiều ấn phẩm được xuất bản cũng viết về vấn đề này.

Không một khóa học nào mà tôi biết nói rằng người học phải cố gắng nói với giọng BBC hoàn hảo. Điều đó nhầm lẫn giữa hình mẫu (models) với mục tiêu (goals): hình mẫu được chọn là BBC, nhưng mục tiêu thường là để phát triển khả năng phát âm của người học một cách đầy đủ để giúp họ giao tiếp một cách hiệu quả với người bản ngữ.

Những bài tập về phát âm hiển nhiên có thể rất khó, nhưng là cần thiết để người học trở nên khá hơn. Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho là trọng tâm của việc giảng dạy về phát âm và âm vị tập trung một cách cứng nhắc về việc kiện toàn nguyên âm và phụ âm: Jones (1956 – xuất bản lần đầu 1909) có nói rằng cách phát âm tốt là cách phát âm mà hầu như mọi người dùng ngôn ngữ đó hiểu được; và ngược lại, cách phát âm tồi là cách phát âm mà phần đông không hiểu. Khi người nói có giọng khác người nghe, người nghe vẫn hiểu được, chẳng hạn như khi cả người Mỹ lẫn người Scotland cùng đánh giá là cách phát âm của một người nào đó là rõ ràng, thì không thể nào nói họ phát âm tồi được.

Gần đây, người ta viết nhiều về Tiếng Anh Quốc Tế International English. Nhưng đây là một phạm trù khác với được nêu trong cuốn sách này, vốn chỉ mô tả một giọng cụ thể. Vấn đề về phát âm mà những khảo cứu về International English đề xuất là Minimum General Intelligibility.

 

 

Standard