Copywriting

Cuốn The Copywriter’s Handbook (1985-2006) của Robert W. Bly

CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU VỀ COPYWRITING 

“A copywriter is a salesperson behind a typewriter”
Judith Charles.

Nhầm lẫn to lớn nhất mà một copywriter mắc phải là đánh giá một chiến dịch quảng cáo như những người ngoại đạo. Nếu như vậy thì bạn chỉ là một nghệ sĩ hay người trình diễn chứ không phải người bán hàng. Và như vậy thì copy của bạn chỉ làm tốn thời gian, tiền bạc của client mà thôi.

Một người ngoại đạo có thể thích, ghét, tranh cãi về một quảng cáo, nhưng nếu một người quảng cáo đủ thông minh thì sẽ hiểu là mục tiêu của quảng cáo không phải nằm ở đó, nếu được thì tốt thôi, mà nằm ở kết quả: rằng doanh số bán hàng có tăng nhờ quảng cáo ấy hay không.

Đây là điều đơn giản và rõ ràng nhất, nhưng phần đông những copywriters cũng như những người làm quảng cáo chuyên nghiệp có vẻ quên mất điều đó. Họ tạo ra những quảng cáo đầy nghệ thuật, những catalogs bắt mắt, và những phim quảng cáo có chất lượng thậm chí còn vượt trội hơn cả một bộ phim nghệ thuật. Nhưng đôi khi họ lại quên mất mục tiêu của mình – bán hàng, và rằng họ là người bán hàng chứ không phải là nhà văn, nhà làm phim, nghệ sĩ trình diễn…

Vốn có tính nghệ sĩ, những người viết quảng cáo dễ bị thu hút bởi những gì đẹp và thẩm mỹ. Nhưng một quảng cáo đáo đẹp không có nghĩa là nó thuyết phục người ta mua hàng của mình. Đôi khi những quảng cáo với chi phí sản xuất thấp, được viết một cách đơn giản và trực tiếp mà không cần quá bóng bẩy, lại có hiệu quả bán hàng cao hơn.

Tôi không nói rằng quảng cáo của bạn phải “rẻ tiền” hay rẻ tiền thì mới hiệu quả. Tôi muốn nói rằng hình thức của quảng cáo nên được định hình bởi và phục vụ cho sản phẩm hay dịch vụ; chứ không phải là chạy theo những cái gì là thời thượng trong lĩnh vực quảng cáo; hay là thỏa mãn tính thẩm mỹ với những nghệ sĩ xem việc bán hàng như là một cái gì xấu xa phải tránh đưa vào quảng cáo bằng mọi giá.

Trong một chuyên mục của tạp chí Direct Marketing, freelance copywriter Luther Brock dẫn ra một ví dụ về sự mâu thuẫn giữa việc sáng tạo trong quảng cáo với việc bán hàng. Brock kể về một công ty in ấn tiêu tốn rất nhiều tiền để có một mẫu quảng cáo direct-mail thật hay. Mẫu quảng cáo này đưa hình ảnh một cái brochure bắt mắt, 4 màu, thiết kế kỹ lưỡng, với một cửa sổ bật lên. Nhưng nó lại phản tác dụng hoàn toàn:

Họ được khen nhiều về cái quảng cáo direct-mail độc đáo đó. Nhưng không nhận được một đơn hàng nào cả. Trong khi đó phải trả phi quảng cáo quá cao. Nhưng cái mail tiếp theo chỉ đơn giản là một thư bán hàng 2 trang và một thiếp trả lời. Vậy mà lại có đến 8% phản hồi.

Là một người làm sáng tạo, bạn muốn viết một nội dung thật hay ho và hấp dẫn. Nhưng là một người làm việc chuyên nghiệp, bạn phải có trách nhiệm làm tăng doanh số bán hàng của client với chi phí thấp nhất. Nếu một classified ad (quảng cáo chiếm 1 góc nhỏ trong trang báo) có hiệu quả một full-page ad, hãy tận dụng. Nếu một simple typewritten letter (thư viết đơn giản) hiệu quả hơn một brochure 4 màu, hãy gửi thư.

Thực tế, một khi bạn nhận ra mục tiêu của quảng cáo là bán hàng (Luther Brock định nghĩa bán hàng là “đặt 100% sự tập trung vào cách mà người đọc quảng cáo sẽ mua hàng, trở thành đối tác với bạn”), bạn sẽ thấy rằng có một thách thức về sáng tạo trong viết quảng cáo đó là phải viết sao cho bán được hàng. Thách thức này khác với thách thức về nghệ thuật: thay vì tạo ra những tuyên ngôn, lời nói đầy tính mỹ miều, hãy đào sâu vào sản phẩm và dịch vụ, lật mở những lý do tại sao khách hàng muốn mua sản phẩm, và thể hiện nội dung quảng cáo sao cho đọc được, hiểu được và có hiệu quả; những nội dung thật thuyết phục khiến khách hàng không thể không mua sản phẩm mà bạn muốn quảng cáo.

Hiển nhiên, Judith Charles và tôi không phải là những người duy nhất có niềm tin là mục tiêu của copywriting là bán hàng. Đây là suy nghĩ của nhiều người khác:

Định nghĩa của tôi nói rằng một quảng cáo phải có mục đích cao xa hơn là thuần túy giải trí. Mục đích đó là đối mặt với việc bán hàng bằng cách thông qua những thộng điệp hợp lý về đặc tính của sản phẩm/dịch vụ, thuyết phục những người đang và sẽ mua hàng/sử dụng dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh chuyển sang mua hàng/sử dụng dịch vụ của mình. Đó chí ít nên là căn bản của quảng cáo. Để hoàn thiện việc này, tôi nghĩ bạn phải hứa rằng cái lợi thế mà người khách hàng chỉ có khi dùng sản phẩm/dịch vụ của mình là tối quan trọng, đủ để anh ta đổi ý.

Hank Seiden, Vice President, Hicks & Greist, New York.

Suốt nhiều năm trời, một bộ phận của ngành quảng cáo đã đưa quảng cáo ra khỏi cái cốt lõi của nó; họ gán cho hình thức của quảng cáo một thứ tính chất xa vời, không xuất phát từ thực tế của việc bán hàng. Kết quả là: quá nhiều quảng cáo giống với một vở nhạc kịch hạng ba, tuyệt vọng kêu gọi khách hàng với những câu đùa cũ rich hoặc những điệp khúc xưa cũ. Ở cấp độ cơ bản nhất, nghành quảng cáo bao gồm việc nắm bắt một sản phẩm, nghiên cứu về nó, tìm hiểu sự đặc trưng của nó và sau đó giới thiệu cái đặc trưng này tới người mua hàng tiềm năng.

Alvin Eicoff, Chairman, A.Eicoff & Company.

Những ai đọc các phê bình về quảng cáo khắp thế giới cũng đều bị vấp phải một sự thật là chúng không thực sự là những phê bình về quảng cáo, mà đúng hơn là những phê bình về năng lực của giám đốc sáng tạp, hay của một bộ phim. Có lẽ nguyên tắc, tri thức sơ đẳng nhất cho mọi người làm sáng tạo quảng cáo ở bất cứ đâu là một người nội trợ trung bình không biết rằng một agency quảng cáo, một giám đốc sáng tạo, một giám đốc chỉ đạo nghệ thuật, hay một copywriter có tồn tại. Họ chỉ quan tâm về việc có mua sản phẩm hay không, chứ không phải là những giám đốc sáng tạo.

Keith Monk, Nestlé, Vevey, Switzerland

Hiển nhiên, tôi chưa bao giờ đồng tình rằng sự sáng tạo là đóng góp to lớn của một agency quảng cáo, và lướt qua những trang tạp chí kinh doanh càng làm sự bất đồng tình của tôi tăng lên khi mà quá nhiều quảng cáo chịu đựng sự sáng tạo quá lố – nhằm mục tiêu tăng lượt đọc hơn là cho sự hoàn thiện của những công việc truyền thông cụ thể. Thậm chí tệ hơn là, sáng tạo chỉ để tự thỏa mãn.

Howard Sawyer, Vice President, Marsteller, Inc.

(…)

Nếu tồn tại hai trường phái trong quảng cáo – vị bán hàngvị sáng tạo, tôi sẽ đứng về phía cái đầu tiên. Và cũng như những chuyên gia đã bày tỏ ý kiến ở trên.

Cuốn sách The Copywriter’s Handbook được viết để dạy bạn cách viết copy bán được hàng. Vì copy để thuyết phục khách hàng mua sản phẩm, phải đảm bảo ba việc sau:

  1. Get attention – thu hút chú ý
  2. Communicate – giao tiếp, đối thoại
  3. Persuade – Thuyết phục

Chương 2 chỉ bạn cách viết copy thu hút sự chú ý, bạn sẽ học về cả Headlines và hình ảnh như là những công cụ thu hút sự chú ý (và bạn sẽ học được cách kết hợp chúng với nhau)

Chương 3 tập trung vào việc viết để đối thoại. Nó cung cấp những nguyên tắc viết rõ ràng, súc tích và đơn giản để truyền đạt thông điệp của bạn đến người đọc.

Chương 4 là những chỉ dẫn về thuyết phục trong writing. Nó dạy bạn cách trở thành một người bán hàng giỏi cũng như một người viết.

Chương 5 là những chỉ dẫn từng bước giúp bạn chuẩn bị hiệu quả mọi bài tập về copywriting.

Chương 6 đến chương 12, bạn sẽ học được cách áp dụng những nguyên tắc này trong nhiều kênh truyền thông khác nhau, cả online lẫn offline.

Chương 13 14 sẽ nói về ngành copywriting, về cách để kiếm việc, cun4ng như cách làm việc với những copywriters nếu bạn là khách hàng.

Chương 15 nói về vai trò của copywriter trong Graphic Design và Layout.

MẠNG INTERNET CÓ THAY ĐỔI COPYWRITING?

Câu trả lời là “có”. Mạng Internet đã cách mạng hóa ngành marketing thông qua tốc độ, sự tiện lợi và giá thành rẻ của nó: chiến dịch marketing gửi email nhanh hơn, dễ dàng hơn và ít tốn chi phí hơn là truyền đi cùng một chất liệu quảng cáo qua thư tay hay quảng cáo trên báo in hoặc truyền hình.

Nhưng điểm quan trọng là việc tiếp cận quảng cáo online thay vì offline không thay đổi bản chất con người, hay tâm lý mua hàng của con người. Claude Hopkins viết trong cuốn Scientific Advertising:

Bản chất con người là bất biến. Ở nhiều phương diện, con người ngày nay và thời Caesar chẳng khác nhau mấy. Do đó các nguyên tắc về tâm lý vẫn cố định và bền vững. Bạn sẽ chẳng bao giờ cần phải học lại những gì đã được học về con người.

Nhưng Internet có thay đổi copywriting, và đây là nhu74nng thay đổi nó mang lại:

  1. Internet, máy vi tính, trò chơi điện tử và những phương tiện truyền thông điện tử khác tạo ra một sự suy giảm đáng kể trong khoảng thời gian tập trung của con người. Súc tích là một đặc tính quan trọng của viết, nhưng ngày nay nó càng quan trọng hơn. Điều này không có nghĩa là copy dài không có tác dụng, hay người ta không còn đọc nữa, hay là mọi copy đều phải giản tiện. Mà nó có nghĩa là bạn phải tuân thủ những lời khuyên sáng suốt của Strunk và White trong cuốn The Elements of Style và “loại bỏ những từ không cần thiết”, giữ cho copy của bạn “sạch sẽ”, súc tích.
  2. Người đọc bị tấn công ồ ạt bởi những tin nhắn quảng cáo và sự quá tải thông tin hơn bất cứ lúc nào trong lịch sử loài người. Rutherford D. Rogers, thủ thư ở Yale, đã nói rằng, “Chúng ta đang chết đuối trong thông tin và vẫn đói kiến thức”. Điều này có nghĩa là bạn phải cố gắn khiến copy của bạn liên hệ đến người đọc, hiểu rằng thứ gì khiến họ thao thức bào buổi tối, nhấn mạnh nhu cầu, khao khát, mong muốn và sợ hãi của họ trong quảng cáo của bạn.
  3. Internet đã khiến người mua hàng trở nên dè chừng hơn, chán ghét quảng cáo; dễ dàng nhận ra sự cường điệu, dễ hoài nghi và thích những loại tin quảng cáo có thông tin: những quanng3 cáo tôn trọng sự thông minh của họ; không đối thoại một cách trên đầu trên cổ họ, và truyền đạt thông điệp mà họ nhận thấy như là có giá trị trong việc giải quyết các vấn đề của họ hay là giúp họ trong quyết định mua hàng.
  4. Khách hàng bận rộn và có ít thời gian hơn bao giờ hết. Do đó, sự tiện lợi và tốc độ truyền đạt là điểm lợi nhuận quan trọng ngày nay, bởi vì chúng tiết kiệm thời gian.
  5. Marketers ngày nay có thể lựa chọn việc đưa sản phẩm của họ online hay offline qua sản phẩm in ấn, hoặc cả hai.

Trong xã hội hiện đại, copywriting là một kỹ năng càng cần phải trau dồi hơn – cả online lẫn offline. Vì sao? Người mua hàng ngày nay được học hành bài bản hơn và hoài nghi hơn, Nhờ vào Internet, họ dễ dàng tiếp cận những thông tin về sản phẩm cũng như so sánh giá cả của nhiều shop khác nhau. Có nhiều sản phẩm và thương hiệu để lựa chọn hơn bao giờ hết, và cũng có nhiều thông điệp quảng cáo – commercials, e-mail, pop-up ads, mailers – cạnh tranh nhau để giành lấy sự chú ý của chúng ta.

Lấy direct mail làm ví dụ. Với chi phí ngày càng tăng về postage, printing và list, và tỉ suất phản hồi ngày càng giảm, càng khó hơn bao giờ hết để có sự kiểm soát mạnh mẽ thư tín.

Tệ hơn là, khách hàng của chúng ta bị tấn công bởi quá nhiều thông điệp truyền thông mỗi ngày. Khi có quá nhiều sự cạnh tranh trong lĩnh vực truyền thông, bạn phải làm việc cật lực hơn vao giờ hết để chắc rằng thư tín của mình – dù là online hay print – đều nổi bật và thu hút sự chú ý của khách hàng. Và hiển nhiên nó có nghĩa duy nhất là: strong copy, copy phải mạnh.

Đúng vậy, lists và offers rất quan trọng,nhưng bạn có thể xác định, một cách nhanh chóng và dễ dàng, list nào và offers nào là tốt nhất cho sản phẩm của mình. Một khi bạn tìm thấy một list đúng đắn và những offers đúng rồi, thì cái đòn bẩy hiệu quả nhất của bản để tăng phản hồi là qua copy.

Viết cũng rất quan trọng với thành công của Web. Nick Usbome chỉ ra trong cuốn Net Words, “Hãy vào website ưa thích của bạn, loại bỏ hết những sự hào nhoáng về hình thức và chỉ đối mặt với từ ngữ – cách duy nhất và tốt nhất để bạn làm nổi bật chính mình trên mạng”. Trong marketing, dù là online hay offline, chữ nghĩa vẫn là quan trọng nhất.

 

CHƯƠNG 2
TẠO ĐƯỢC SỰ CHÚ Ý TRONG COPYWRITING

Dkjd

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 18

Ngữ điệu có các chức năng sau:

i) Ngữ điệu cho phép chúng ta thể hiện cảm xúc và thái độ khi nói, điều này tạo ra một sắc thái nghĩa cho ngôn ngữ nói. Chức năng này gọi là chức năng tình thái, attitudinal function.

ii) Ngữ điệu giúp tạo ra sự tương phản về cường độ, trường độ, cao độ giữa các âm tiết, giúp nhấn mạnh những âm tiết hay từ vựng mà người nói muốn nhấn mạnh. Đây gọi là chức năng nhấn mạnh, accentual function.

iii) Ngoài ra, ngữ điệu là dấu hiệu nhận biết cấu trúc ngữ pháp trong văn nói, nó thể hiện ranh giới giữa các ngữ, các mệnh đề, hoặc các câu; nó thể hiện thể khẳng định và nghi vấn, và nó còn thể hiện được các yếu tố chính-phụ của cấu trúc câu nói. Đây là chức năng ngữ pháp, grammatical function, của ngữ điệu.

iv) Nhìn rộng hơn, ngữ điệu ra dấu cho người nghe biết thông tin nào đã được cho biết, thông tin nào là mới, có thể giúp người nghe đối chiếu, liên kết các dữ liệu trong giao tiếp, cho họ biết rằng họ phải nói gì tiếp theo cho phù hợp tình huống. Chức năng đàm thoại, discourse function, là chức năng này của ngữ điệu.

Chức năng tình thái (attitudinal function) của ngữ điệu:

dd

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 17

Trong chương trước chúng ta đã nói về cách biến đổi cao độ trong những phần đuôi theo sau âm tiết tông trong trường hợp âm tiết tông là rising tone và falling tone. Tiếp sau đây chúng ta sẽ nói về trường hợp âm tiết tông là fall-rise và rise-fall.

Phần đuôi của tông fall-rise và tông rise-fall

Sự nối dài của tông từ âm tiết tông sang đuôi ở những trường hợp fall-rise tone và rise-fall tone khá phức tạp. Chẳng hạn, khi thêm vào đơn vị tông chỉ có một âm tiết sau:

 ̬ some

một phần đuôi là 1 âm tiết nữa, thành:

 ̬ some ·men

thì tông fall-rise này sẽ được phân bố cho hai âm tiết: phần fall rơi vào âm tiết ‘some’ và phần rise rơi vào âm tiết ‘men’. Trong trường hợp này, khi giữa âm tiết thứ nhất và âm tiết thứ hai không có một phụ âm vô thanh chen giữa gây ra nhịp ngắt của tông thì kết quả thu được là một sự chuyển tông diễn ra liên tiếp tương tự như ở đơn vị tông một âm tiết (\/).

 ̬ some ·chair

Còn trong trường hợp giữa hai âm tiết có chèn một phụ âm vô thanh, khiến cho tông bị ngắt quãng. (\ /)

Tuy nhiên, nhiều người nói tiếng Anh hầu như cảm thấy sự chuyển tông trong trường hợp này không khác gì trong hai trường hợp trước. Sự tương đồng này giống với sự hợp vần mà người ta vẫn thấy như giữa từ ‘balloon’ với từ ‘moon’, và người ta gọi nó là tonal rhyme (sự hợp vần tông). Theo đó  ̬ some ·chair hợp vần tông với  ̬ some.

Khi đuôi có từ hai âm tiết trở lên, thì cũng tương tự như trên, phần fall của tông vẫn rơi vào âm tiết tông, còn phần rise sẽ rơi vào âm tiết nhấn cuối cùng ở phần đuôi. Tông sẽ vẫn giữ ở cao độ thấp khi rơi xuống ở âm tiết tông, cho đến khi gặp âm tiết được nhấn cuối cùng của phần đuôi thì sẽ được nâng lên đến khi kết thúc đơn vị tông. Nếu không có âm tiết nào được nhấn ở phần đuôi, phần rise sẽ rơi vào âm tiết cuối. Sau đây là một số ví dụ:

i) I  ̬ might  ·buy it

I  ̬ might have ·thought of ·buying it

ii)  ̬ most  of them

̬ most  of it was for them

 

Với tông rise-fall tone, chúng ta cũng thấy tương tự: phần rise rơi vào âm tiết tông, và phần fall được phân bố ở phần đuôi đơn vị tông.

 ̭ no  (/\)

 ̭ no one (/\)

 ̭ no sir (/ \)

Khi có nhiều hơn một âm tiết, âm tiết liền sau âm tiết tông sẽ luôn có cao độ cao hơn âm tiết tông và những âm tiết còn lại sau nó sẽ có cao độ thấp. Chẳng hạn:

 ̭ beautiful  (/ – _ )

 ̭ all of them went (/ – _ _ )

 ̭ thats a nice way to speak to your mo ther (/ – _ _ _ _ _ _ _ _)

Người nói không có lựa chọn nào khác cho sự chuyển tông của phần đuôi. Cao độ phần đuôi thế nào phụ thuộc vào tông được chọn cho âm tiết tông.

 

Phần đầu cao và thấp

Cao độ của phần đầu đơn vị tông có thể là high head, khi âm tiết nhấn ở đầu phần head có cao độ cao hơn cao độ của âm tiết tông. Chẳng hạn:

The ‘bus was late ( _ – – \ )

Is ‘that the end ( _ – – /)

Nó cũng có thể là low head, khi âm tiết nhấn của phần head có cao độ thấp hơn cao độ của âm tiết tông. Ký hiệu của nó là (‚). Chẳng hạn:

The ,bus was late ( _ _ _ \ )

Is ,that the end ( _ _ _ / )

Những âm tiết không nhấn theo sau âm tiết nhấn trong phần head sẽ tiếp nối cái cao độ của âm tiết nhấn. Trong những ví dụ sau, những âm tiết không nhấn ‘if it had’ có cao độ giống như cao độ của âm tiết nhấn ‘asked’.

We ‘asked if it had come ( _ – – – – \ )

We ,asked if it had come ( _ _ _ _ _ \ )

Nếu có nhiều hơn môt âm tiết nhấn ở phần head, sẽ có sự chuyển nhẹ về cao độ từ âm tiết nhấn đầu sang âm tiết nhấn kế, sao cho hướng đến cao độ khởi đầu của âm tiết tông. Chẳng hạn những ví dụ sau:

The ‘rain was ‘com ing ‘down ‘fairly hard ( _ ¯ ¯ –  – – _ _ \ )

Ta có thể thấy trog ví dụ trên cao độ trượt dần từ âm tiết nhấn đầu tiên tới cao độ mở đầu của âm tiết tông ‘hard’. Còn trong ví dụ sau, vì âm tiết tông bắt đầu bằng cao độ thấp, nên toàn bộ phần trước đều giữ nguyên cao độ thấp.

,Thats ,not the ,story you ,told in court ( _ _ _ _ _ _ _ _ / )

Tương tự, với low head theo sau là falling tone:

,I could have ,bought it for ,less than a pound ( _ _ _ –  – – ¯ ¯ ¯ \ )

Và high head theo sau là rising tone:

‘Will there be a’nother ‘train  later (¯ ¯ ¯ ¯ –  – _ /)

Hiển nhiên thực tế khi khảo cứu về intonation của những phần đầu nhiều âm tiết ta sẽ thấy chúng có rất nhiều biến thể. Nhưng trên đây là những quan sát phổ quát nhất.

Nhiều người cho rằng đường hướng cơ bản, thông thường nhất của mọi intonation là luôn bắt đầu từ một tông cao sao đó hạ dần xuyên suốt utterance. Đây gọi là declination. Quan điểm cho rằng declination là một đặc tính của mọi ngôn ngữ là một quan điểm khá nổi trội. Nhưng tốt hơn hết chúng ta nên xem xét quan điểm này thông qua các chứng cứ ngữ liệu quan sát được.

Hai ký hiệu ‘ và , được dùng nhiều trong cuốn sách này với những mục đích khác nhau. Khi nói về trọng âm (stress), ‘ dùng để chỉ trọng âm chính, và , dùng để chỉ trọng âm phụ. Khi nói về ngữ điệu (intonation), ‘ dùng để biểu thị high head trong đơn vị tông và , biểu thị low head. Miễn là chúng ta phân biệt rõ khía cạnh ngữ âm được nói đến là trọng âm hay ngữ điệu, những ký hiệu này sẽ không bị nhầm lẫn.

Về sự nhập nhằng giữa trọng âm và ngữ điệu, cần làm rõ điều sau. Khi xem xét lời nói ở cấp độ đơn vị tông, cái cần quan tâm không phải là sự khác biệt về nhấn mạnh giữa các âm tiết trong một từ riêng lẻ, mà là sự khác biệt về nhấn mạnh giữa các âm tiết nhấn với các âm tiết không nhấn trong một đơn vị tông.

Những vấn đề của phân tích hình thức ngữ điệu (form of intonation):

Xác định âm tiết tông:

Chúng ta đã thấy rằng một tông có thể kéo dài từ âm tiết tông sang phần đuôi của nó, do đó không dễ để xác định âm tiết tông. Mặt khác, một trong năm tông là level tone, vốn không có sự thay đổi về cao độ. Do đó, chỉ có thể nói trong những trường hợp như trên, âm tiết tông được xem là âm tiết nổi bật nhất về cường độ, trường độ.

Thêm nữa, đôi khi một số đơn vị tông có chứa đến 2 âm tiết tông, nghĩa là trường hợp tông rise-fall hoặc fall-rise được phân bổ vào 2 âm tiết liền nhau:

(i) I’ve seen  him 

Có quan điểm cho là trường hợp trên vốn dĩ là:

(ii) I’ve  ̬ seen him 

Nhưng thực sự chúng khác nhau. Trước hết âm tiết ‘him’ ở (i) được nhấn mạnh tương đương với ‘seen’ nên nó phải phát âm như một strong form là /him/ chứ không được ở dạng weak form là /im/. Và về sắc thái biểu đạt cũng khác nhau, (i) có thể được nói trong một hội thoại khi nghe tên ai đó:

A: John Cleese is a very funny actor.

B: ‘Oh ,yes | I’ve seen him 

Còn (ii) giống như người nói có gì đó dè dặt hoặc còn điều gì đó nữa cần nói:

A: Have you seen my father yet?

B: I’ve  ̬ seen him | but I ‘havent had ‘time to talk to him.

Ta cũng thấy điều tương tự với âm tiết ‘her’ trong ví dụ sau:

I’ve seen  her 

I’ve  ̬ seen her

Xác định ranh giới giữa các đơn vị tông:

Về mặt ngữ pháp, có thể xác định ranh giới giữa các câu trong một lời thông qua những dấu hiệu về ngữ pháp như chấm câu. Tương tự, trong ngữ âm học siêu đoạn tính, ta cũng có thể xác định ranh giới giữa các đơn vị tông trong một lời thông qua những dấu hiệu về ngữ âm và âm vị. Tuy nhiên, việc rút ra quy luật cho sự phân biệt này rất khó, trừ khi có nhịp nghỉ rõ ràng giữa hai đơn vị tông.

Có hai nguyên tắc được nêu ra: một là có thể xác định dựa trên sự thay đổi đột ngột về cao độ khi một đơn vụ tông kết thúc và nhận ra sự bắt đầu của môt đơn vị tông khác khi người nói trở lại cao độ thường thấy ở phần đầu đơn vị tông; hai là tính nhịp điệu, trong một đơn vị tông, tiếng nói có một nhịp điệu thông thường, nhưng nhịp điệu ấy bị phá vỡ hoặc ngắt quãng ở những ranh giới đơn vị tông. Cả hai nguyên tắc trên đều hữu hiệu nhưng trong thực tiễn  phân tích ngữ điệu, không có một chứng cứ nào đủ thuyết phục để kết luận là hai nguyên tắc trên tuyệt đối đúng.

Những đơn vị tông bất quy tắc

Mọi mô tả khái quát dù có đầy đủ đến đâu cũng vẫn không bao hàm được hết các ngoại lệ, các mô tả ngữ điệu cũng vậy. Chẳng hạn, đôi khi người ta còn thấy những tông như fall-rise-fall hay rise-fall-rise. Hoặc ở phần đầu, người ta đôi khi thấy những âm tiết nhấn không phải lúc nào cũng toàn là high hoặc toàn là low. Chẳng hạn:

,After ,one of the ‘worst ‘day of my ̬ life

Và đôi khi, lời người nói bị ngắt và khiến cho một đơn vị tông bị dừng nửa chừng, chẳng hạn, thiếu âm tiết tông.

Tuy nhiên, với kiến thức về ngữ điệu, ta vẫn có thể phiên mã, xác định và nhận diện được các trường hợp bất quy tắc này.

Xem xét ngữ điệu một cách đoạn tính:

Gần đây, một cách phân tích ngữ điệu mới xuất hiện và thịnh hành là autosegmental, xuất hiện nhiều trong các nghiên cứu ở Mỹ. Theo hướng phân tích này, mọi biến đổi của ngữ điệu được quy về hai trạng thái đối cực là H (high tone) và L (low tone). Theo đó, fall tone sẽ là HL, chẳng hạn. Những âm tiết nhấn đều phải được đánh dấu là H hoặc L, hoặc kết hợp cả hai. Ranh giới có nhịp nghỉ (||) giữa các đơn vị tông được kí hiệu là %, và đặt ngay sau H hoặc L. Ví dụ “Its time to leave” sẽ được phiên mã là:

           H         H L%
Its time to leave

Ranh giới không có nhịp nghỉ (|) được kí hiệu là –, và cũng đặt sau H hoặc L.

           L                               L H–                H                       H L– L%
we looked   at   the         sky         and saw     the          clouds

Theo đó, ví dụ

 ̬ most of them

sẽ được phiên mã thành:

       H                   L– H%
most      of       them

 

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 16

Đơn vị tông (the tone-unit)

Tiếng Anh không phải là ngôn ngữ có thanh điệu (tone language). Do đó, cách phân tích chức năng và sự phân bố của tông trong Tiếng Anh khác với trong những ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Việt. Trong những ngôn ngữ có thanh điệu, người ta phân tích tông dựa trên việc khảo cứu từng đơn vị của ngữ âm học là âm tiết, xem xét mỗi âm tiết như là một đối tượng có thể biến đổi một cách độc lập về thanh điệu để mang nghĩa khác. Trong tiếng Anh, số lượng từ vựng 1 âm tiết có thể biến đổi sắc thái nghĩa khi biến đổi tông của chúng rất ít, chẳng hạn như từ ‘yes’ và ‘no’ ở chương 15. Việc phân tích tông trong tiếng Anh, theo đó, vượt lên trên phạm vi một âm tiết, do đó cần một đơn vị khác cho tông. Đó là đơn vị tông (tone-unit).

Một đơn vị tông chứa ít nhất 1 âm tiết. Cách định nghĩa khái niệm đơn vị tông tốt nhất là thông qua ví dụ minh họa. (vì trong khi nói, intonation biểu thị dấu câu, nên trong những ví dụ được ký hiệu về tông sau không cần phải đưa thêm dấu câu. Những âm tiết có chứa tông sẽ được gạch chân.):

is it ′you

Trong ví dụ trên, âm tiết thứ ba mạnh hơn hai âm tiết còn lại vì có chứa một tông: rising tone. Hai âm tiết đầu thường nhẹ hơn và được cho là có cao độ không đổi. Vậy tại sao chúng ta không nói rằng hai âm tiết ‘is’ và ‘it’ chứa tông ngang, level tone? Bởi vì nếu nói rằng các âm tiết trên chứa tông ngang, thì các âm tiết ấy sẽ cũng được nhấn mạnh như âm tiết ‘you’.

Chẳng hạn trong tiếng Trung Phổ Thông, từ mäma chứa hai âm tiết, âm tiết đầu mạnh, có thanh ngang; âm tiết sau nhẹ, vô thanh. Nếu âm tiết sau cũng chứa thanh ngang, nghĩa là nó sẽ mạnh như âm đầu, thì nó sẽ bị biến đổi nghĩa. Còn trong tiếng Anh, trong ví dụ trên, nếu nhấn cả ‘is’ và ‘it’, câu nói đó sẽ không tự nhiên mà như là đang cố gắng nói chậm và to ra cho một người lãng tai hiểu vậy.

Âm tiết có chứa tông gọi là âm tiết tông (tonic syllable). Những âm tiết chứa tông được nhấn mạnh hơn âm tiết không chứa tông. Một âm tiết tông không chỉ mang tông, mà nó còn được nhấn mạnh bằng trường độ, cường độ so với các âm tiết không mang tông trong câu nói. Sự nhấn mạnh này được gọi là nhấn tông (tonic stress). Một số người gọi dùng thuật ngữ nucleus và nuclear stress thay vì là tonic syllable và tonic stress.

Ví dụ trên có thể được mở rộng như sau:

John is it ′you

Fall-rise tone thường gặp khi gọi tên ai đó. Nếu có một nhịp nghỉ giữa ‘John’ và ‘is it you’ thì có 2 utterances ở đây. Nhưng chúng ta sẽ xem xét nó như một utterance.

Và utterance này được chia làm hai đơn vị tông: ‘john’ và ‘is it you’.

Có thể thấy rằng đơn vị tông có mối quan hệ thứ bậc (hierarchical relationship) với các đơn vị ngữ âm khác: một diễn ngôn (speech) bao gồm một hoặc nhiều lời nói (utterances), mỗi một lời nói gồm một hoặc nhiều đơn vị tông (tone-unit), mỗi một đơn vị tông bao gồm một hoặc nhiều feet, mỗi một foot bao gồm một hoặc nhiều âm tiết (syllables), mỗi một âm tiết bao gồm một hoặc nhiều âm vị (phonemes).

Cấu trúc của đơn vị tông:

Ở chương trước, ta chỉ mới đề cập đến một bộ phận cấu thành của đơn vị tông là âm tiết tông. Hầu như mọi đơn vị tông đều thuộc dạng đơn (simple), những dạng phức (compound) không được trình bày ở chương này. Mỗ đơn vị tông dạng đơn (simple tone-unit) luôn có một và chỉ một âm tiết tông; nói cách khác, âm tiết tông là bộ phận không thể thiếu và duy nhất của một đơn vị tông. (cũng giống như vai trò của nguyên âm trong âm tiết vậy). Ngoài âm tiết tông, đơn vị tông còn chứa:

The head – phần đầu đơn vị tông:

Đây là một utterance chỉ gồm 1 âm tiết tông:

those

Utterance sau gồm 1 đơn vị tông, và trong đó có 1 âm tiết tông như trên:

‘give me those

Toàn bộ phần đứng trước âm tiết tông trong đơn vị tông được xem là phần đầu (head). Mỗi một head được bắt đầu bằng một âm tiết nhấn (stressed syllable), như âm tiết ‘give’ ở trên. Head là bộ phận kéo dài từ âm tiết nhấn đầu tiên cho đến âm tiết tông. Nếu không có âm tiết nhấn đầu thì không có head.

Trong ví dụ sau, head bao gồm 5 âm tiết đầu:

‘Bill ‘called to ‘give me these

Còn ví dụ sau là một utterance gồm một đơn vị tông, có chứa 1 âm tiết tông nhưng không có head:

in an hour

Trong ví dụ này, hai âm tiết đầu không được gọi là head, mà chúng được gọi là pre-head (phần trước đầu).

The Pre-head, phần trước đầu của đơn vị tông:

Pre-head bao gồm toàn bộ những âm tiết không nhấn trong đơn vị tông đứng trước âm tiết nhấn đầu tiên, tức đứng trước head. Theo đó, phần pre-heads có thể bắt gặp ở 2 trường hợp sau:

i) Khi không có head (không có âm tiết nhấn trước âm tiết tông): như ví dụ ‘in an hour’ ở trên.

ii) Khi có head, như trong ví dụ:

in a ‘little ‘less than an hour

The tail – phần đuôi đơn vị tông:

Trong một đơn vị tông, thường theo sau âm tiết tông có một số âm tiết khác nữa. Toàn bộ những âm tiết từ âm tiết tông đến hết đơn vị tông được gọi là tail, tức phần đuôi của đơn vị tông. Những ví dụ sau sẽ cho thấy điều đó:

look at them

what did you say

both of them were here

Khi cần thiết phải nhấn một âm tiết thuộc phần đuôi, chúng ta phải dùng một ký hiệu đặc biệt là dấu chấm • vì những lí do sẽ được trình bày sau. Theo đó những ví dụ trên sẽ được phiên mã lại như sau:

look at them

what did you ·say

both of them were ·here

Như vậy, các bộ phận của một đơn vị tông có thể được mô tả như sau:

(pre-head) (head) tonic syllable (tail)

Hay

(PH) (H) TS (T)

Những bộ phận trong ngoặc là có thể có hoặc không có. Để minh họa rõ hơn, chúng ta cùng phiên mã một đoạn thoại dài gồm nhiều đơn vị tông sau. Để tách bạch ranh giới giữa các đơn vị tông, tức là kết thúc một đơn vị tông này và bắt đầu một đơn vị tông khác, người ta đôi khi có thể dùng một nhịp nghỉ, đôi khi không. Khi phiên mã, ranh giới giữa hai đơn vị tông sẽ là đường dọc kép (||) nếu có nhịp nghỉ, và sẽ là đường dọc đơn (|) nếu không có nhịp nghỉ.

|| and then ‘nearer to the  ̬ front || on the left | theres a ‘bit of forest | ‘coming ‘down to the waterside || and then a ‘bit of a bay ||

Theo đó, cấu trúc của các đơn vị tông trong đoạn thoại trên được minh họa như sau:

|| PH H TS || PH TS | PH H TS T | H TS  T || PH H TS ||

Đoạn trên gồm 5 đơn vị tông. Đơn vị tông thứ ba có đầy đủ các bộ phận, trong đó từ ‘forest’ gồm 2 âm tiết, âm tiết đầu là âm tiết tông và âm tiết sau là đuôi.

Những trường hợp về cao độ trong đơn vị tông dạng đơn:

Ngữ điệu của một lời nói được tạo ra bởi các đơn vị tông của lời nói đó.

Mỗi một âm tiết tông trong đơn vị tông đều phải chứa một trong 5 tông đề cập đến ở chương trước (rise, fall, rise-fall, fall-rise hoặc level). Nếu âm tiết tông là âm tiết cuối, tông nghe thấy sẽ không khác gì với một đơn vị tông chỉ gồm 1 âm tiết. Chẳng hạn, âm tiết tông ‘here’ trong đơn vị tông có phần đầu sau nghe cũng giống như thể khi nó là âm tiết tông của một đơn vị tông chỉ gồm một âm tiết:

here                                             ‘shall we ‘sit here 

Tuy nhiên, nếu có những âm tiết khác theo sau âm tiết tông, tức là nếu đơn vị tông có phần đuôi, chúng ta sẽ thấy sự chuyển hướng của cao độ trong tông không được đầy đủ trong âm tiết tông. Nếu phần đuôi theo sau một âm tiết tông rising tone, những âm tiết thuộc phần đuôi sẽ tiếp tục nâng lên về cao độ, tức người nói sẽ tiếp tục lên tông sau âm tiết tông rising tone.

Chẳng hạn, âm tiết ‘what’ trong đơn vị tông sau có rising tone, khiến cho phần đuôi theo sau nó cũng đi lên về cao độ:

what did you say

Tương tự như vậy, ta sẽ thấy trường hợp âm tiết tông falling tone khi có phần đuôi cũng sẽ khiến phần đuôi đi xuống về cao độ:

why did you go

Vì level tone thường không xuất hiện trong giao tiếp thông tục thông thường, nên chúng ta không khảo cứu về nó. Đối với các tông rise-fall và fall-rise, chúng ta sẽ nói đến trong chương sau.

 

 

 

 

 

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 15

Các đơn vị ngôn ngữ nói được phân ra thành các đơn vị đoạn tính (segmental) bao gồm nguyên âm và phụ âm, và các đơn vị siêu đoạn tính (suprasegmental) bao gồm trọng âm và ngữ điệu.

Ngữ điệu (intonatiob) là gì?

Rất khó để định nghĩa nhưng tạm xem nó như cao độ của giọng nói (the pitch of the voice) trong câu. Trừ một số trường hợp đặc biệt, hầu như mọi lúc chúng ta nói, cao độ của giọng nói chúng ta không ngừng thay đổi. Một trong những bài tập quan trọng trong phân tích ngữ điệu là lắng nghe cao độ giọng nói của người nói và nhận biết mục đích của nó; đây là một điều không hề dễ dàng và rất khác với việc học các đơn vị đoạn tính. Cao độ được mô tả bởi một thước đo ước lượng với hai điểm nút là cao độ cao (high pitch) và cao độ thấp (low pitch). Một số người khó phân định được sự khác biệt này, cũng giống như một số người khó phân định được nặng-nhẹ hay phải-trái.

Vì cao độ trong giọng nói của một người có thể thay đổi một cách vô chừng và không cố ý, khi nghiên cứu về ngữ điệu trong giọng nói, chỉ nên quan tâm đến những khía cạnh của cao độ giọng nói có ý nghĩa về mặt ngôn ngữ học.

Về cao độ (pitch):

Về mặt cấu âm, cao độ của giọng nói là do sự rung động của dây thanh (vocal folds). Dây thanh rung càng nhanh thì giọng càng cao, và ngược lại. Về mặt vật lý, cao độ hoàn toàn có thể đo đạt được thông qua thông số về tần số cơ bản (fundamental frequency). Tuy nhiên, trong giao tiếp, khái niệm cao độ không chỉ phụ thuộc vào người nói, đo đạt được, mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận của người nghe, không đo đạc được.

Do đó, trong ngôn ngữ học, cao độ buộc phải trước hết cảm nhận được (perceptible) bởi người nghe, thông qua sự đối lập (contrast) giữa giọng cao và giọng thấp. Nhờ sự đối lập này mà ta phân biệt được các cao độ khác nhau.

Dạng thức và chức năng của ngữ điệu:

Đơn vị nhỏ nhất của tiếng nói là âm tiết (syllable), và một chuỗi liên tiếp các âm tiết được phát ra cùng với nhau, ngắt ở đầu và cuối bởi một nhịp nghỉ rõ ràng (clear pause) được gọi là một lời nói (utterance). Trong chương này, chúng ta chỉ bàn về ngữ điệu của một lời nói chỉ gồm 1 âm tiết (one-syllable utterance).

Ngữ điệu của lời nói chỉ gồm 1 âm tiết:

Hai điển mẫu cho lời nói chỉ gồm 1 âm tiết là ‘yes’ và ‘no’. Để mô tả cho biểu hiện của cao độ trong giọng nói, người ta dùng từ tông (tone). Theo đó, tông của một âm tiết có thể không đổi (level tone) hoặc thay đổi (moving tone), gồm lên tông (rising) hoặc xuống tông (falling).

Ngày nay, rất ít người tin là người ta có thể khảo cứu một cách khoa học và đầy đủ về các dạng thức và chức năng của ngữ điệu bởi vì chúng rất đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên, có những nguyên tắc chung nhất có thể được rút ra. Tôi tin rằng người học tiếng Anh ở trình độ cao có thể thông qua khóa học này nhận diện được các nguyên tắc về ngữ điệu của người bản ngữ và bắt chước chúng. Cách tốt nhất để tự nhiên đắc thụ việc vận dụng ngữ điệu như người bản ngữ là sinh ra ở một nước nói tiếng Anh, với người học là người lớn, cần phải luyện tập thông qua việc nghe và nói với người bản ngữ. Có một sự thật gây nản lòng là những ai không có điều kiện giao tiếp thường xuyên với người bản ngữ hay không nghe Tiếng Anh thông tục thường xuyên sẽ không bao giờ có thể nắm bắt được ngữ điệu, ngay cả khi họ rất giỏi về phát âm các đơn vị đoạn tính và trọng âm.

Cách phiên mã ngữ điệu:

High Level             ⁻⁻yes                        ⁻⁻no

Low Level          _ yes                          _no

Falling                 yes                          no

Rising                   yes                          no

Khi thay đổi ngữ điệu trong Tiếng Anh, chỉ có sắc thái biểu đạt là thay đổi, còn ý nghĩa vẫn vậy. Nhưng trong tiếng Việt, nếu thay đổi thanh điệu, một từ sẽ biến thành một từ hoàn toàn khác, chẳng hạn từ ba (thanh ngang) và từ bả (thanh hỏi). Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu (tone language). Tiếng Trung Phổ Thông (Mandarin Chinese) cũng vậy:  ⁻⁻ma nghĩa là mẹ, ma nghĩa là cây gai dầu, ma nghĩa là trách mắng. Vì là một ngôn ngữ không có thanh điệu, rất khó hệ thống hóa tiếng Anh.

Những tông phức (complex tone) và quãng cao độ (pitch height):

Tông không chỉ có level, rise và fall, mà nó có thể biến đổi phức tạp hơn thành fall-rise tone (xuống rồi lên tông) hoặc rise-fall tone (lên rồi xuống tông).

Một điểm phức tạp nữa cần được nêu ra ở đây. Mỗi một người nói có một quãng cao độ của riêng mình khi nói: từ tone cao nhất tới tone trầm nhất. Nhưng trong một số trường hợp, như khi có cảm xúc mãnh liệt, quãng cao độ này có thể mở rộng ra. Chẳng hạn, khi muốn nhấn mạnh, người ta có thể nói từ yes thành \yes. Đối với trường hợp này, chúng ta có thể dùng ký hiệu mũi tên hướng lên ↑ để chỉ sự mở rộng quãng cao độ. Theo đó, hai cách nói từ ‘yes’ trên đây có thể được kí hiệu là:

yes                                     ↑yes

Một số chức năng của ngữ điệu

Fall yes no:
Cách phát âm này vốn dĩ có sắc thái biểu đạt bình thường, trung tính, như câu trả lời cho một câu hỏi yes/no question nào đó và không cần phải nói thêm gì cả. Sự xuống tông tạo cảm giác về sự kết thúc ý.

Rise  yes no:
Sự lên tông tạo cảm giác rằng còn gì đó sẽ cần tiếp nối sau đó trong cuộc nói chuyện. Một ví dụ điển hình là:

A (muốn B chú ý): Excuse me.
B: yes.

Cách nói từ ‘yes’ của B khiến nó có thông điệp khác đi kèm là “what do you want?”.

Một ví dụ khác là:

A: Do you know John Smith?
B: yes.

Cách đáp lời này hàm chứa thông điệp là B có biết John Smith và muốn A tiếp tục điều mà anh ấy muốn nói về John Smith. Lúc này sự lên tông giống như một lời mời người nghe tiếp tục nói. Chẳng hạn:

A: You start off on the ring road…
B: yes.
A: turn left at the first roundabout…
B: yes.
A: and ours is the third house on the left.

Còn với ‘no’. Có ví dụ sau:

A: Have you seen Ann?

Nếu B trả lời no, B không hứng thú với đề tài đó. Còn khi B trả lời no, B muốn A tiếp tục giải thích vì sao cô ấy tìm Ann hoặc tại sao cô ấy không biết Ann ở đâu, đại loại vậy.

Tương tự như vậy, khi ai đó hỏi một câu mà hàm chứa ý muốn sẵn sàng đưa ra một thông tin mới mẻ nào đó.

A: Do you know what the longest ballon flight was?

Nếu B trả lời no, B sẽ tạo cảm giác là anh ta chẳng hứng thú gì với câu đố ấy. Còn với no, B khuyến khích A nói tiếp.

Fall-rise ̬ yes  ̬ no:
Cách phát âm này tạo cảm giác về sự đồng tình phần nào (limited agreement) hoặc đáp lời với sự dè dặt (response with reservations).

A: I’ve heard that it’s a good school.
B: ̬ yes

B không đồng tình hoàn toàn với A, và A có thể sẽ chờ đợi B tiếp tục lí giải tại sao anh ấy đồng ý một cách miễn cưỡng như vậy. Tương tự:

A: It’s not really an expensive book, is it?
B: ̬ no

Sự xuống-lên tông này thể hiện sự không đồng tình hoàn toàn với điều được nói trước đó. Đồng thời cũng thể hiện sự dè dặt hoặc ngần ngại.

Rise-fall ̭ yes ̭ no:

Sự lên-xuống tông này thể hiện cảm xúc đồng tình, hoặc phản bác một cách mạnh mẽ, hoặc cảm giác ngạc nhiên.

A: You wouldn’t do an awful thing like that, would you?
B: ̭ no.

A: Isn’t the view lovely?
B: ̭ yes.

A: I think you said it was the best so far.
B: ̭ yes.

Level _ yes _no:

Cách phát âm này chỉ phản ánh một điều gì mang tính thói quen, không có gì thú vị hoặc nhàm chán. Chẳng hạn, khi được điểm danh, học trò sẽ trả lời ‘yes’ với ngữ điệu không đổi.

 

 

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 1

Đây là bài đầu tiên cho chuỗi những bài viết được dịch và tổng hợp lại từ cuốn English Phonetics & Phonology – A Practical Course của Peter Roach.

Mục đích khóa học:

Bằng lý thuyết về ngữ âm học (phonology) và âm vị học (phonetics), khóa học diễn giải cách phát âm Tiếng Anh theo chất giọng (accent) được xem là tiêu chuẩn trong học Tiếng Anh giao tiếp ở nước Anh.

Tiếp cận thông qua lý thuyết ngôn ngữ học là cần thiết vì nó cung cấp những nguyên lý mang tính phổ quát về việc phát âm tiếng Anh.

Chương trình học:

Âm vị (phonemes) là những âm được sử dụng để phát ra tiếng nói, gồm nguyên âm và phụ âm. Chẳng hạn, ‘pin’ và ‘pen’ có phụ âm giống nhau và khác nhau nguyên âm /i/ và /e/; tương tự như vậy với phụ âm đầu của hai từ ‘pet’ và ‘bet’.

Tiếng Anh khác với tiếng Việt ở chỗ: nếu tiếng Việt nói thế nào thì viết thế ấy – mối quan hệ chỉ có tính một đối một, thì trong tiếng Anh, 1 chữ cái có nhiều cách phát âm và một âm cũng có thể được thể hiện bởi nhiều chữ cái – mối quan hệ không có tính một đối một.

Do đó, nếu học tiếng Việt chỉ cần học bảng chữ cái “a ă â b c…” là có thể vừa phát âm vừa viết chữ, thì người học tiếng Anh phải vừa học bảng chữ cái để viết, vừa học bảng âm vị để phát âm.

Chẳng hạn từ ‘enough’ được phát âm phần đầu giống từ ‘inept’ nhưng phụ âm cuối lại phát âm giống với trong từ “stuff”. Và theo bảng âm vị, khi phiên mã (transcribe) cách phát âm từ ‘enough’, ta có /in^f/.

Bảng âm vị mà chúng ta được học thuộc bảng âm vị Quốc Tế (International Phonetic Alphabet – IPA). Có rất nhiều ngôn ngữ khác cũng có tính chất giống Tiếng Anh, nên việc học bảng âm vị này sẽ giúp ích rất nhiều khi chúng ta muốn khảo cứu cách phát âm của nhiều ngôn ngữ khác từ góc độ Âm vị học của Tiếng Anh.

Chương 1 của khóa học sẽ nói về cách nhận diện và mô tả những âm vị trong Tiếng Anh. Chương 2, 3 nói về nguyên âm. Và Chương 4 nói về phụ âm. Chương 5 nói về bảng âm vị và cách sử dụng những ký hiệu âm vị.

Sau âm vị, khóa học sẽ nói về trọng âm (stress) – về độ nặng của âm tiết và ngữ điệu (intonation) – về cao độ của giọng trong một câu.

Về chất giọng (accents):

Mỗi ngôn ngữ nói đều có nhiều accent (chất giọng – cách phát âm khác nhau của những người thuộc khu vực địa lý, hay văn hóa, xã hội khác nhau). Chẳng hạn, trong tiếng Việt, cùng là một câu “…”, ở miền Bắc phát âm là…, miền Nam phát âm là…. Trong tiếng Anh,

Accent khác với dialect (phương ngữ) ở chỗ dialect là biến thể của một ngôn ngữ, không chỉ bao gồm cách phát âm mà còn bao gồm cả hệ thống từ vựng, ngữ pháp và trật tự từ nữa. Ví dụ… Còn accent thì chỉ là về cách phát âm mà thôi.

Trong khóa học này, accent được dùng làm mẫu để dạy là Received Pronunciation (RP), đây là cái tên đã cũ và có nhiều thiếu sót. Ngày nay, vì nó là giọng quen thuộc của các phát thanh viên thuộc BBC cũng như nhiều kênh truyền hình ở Anh khác, nên nó được gọi bằng cái tên phù hợp hơn là BBC Pronunciation (cách phát âm của BBC).

Khóa học này không dành cho những ai muốn học cách phát âm Mỹ. Cách phát âm Tiếng Anh ở Bắc Mỹ khác với ở Anh. Tuy đôi khi cũng có ngoại lệ, chẳng hạn ở một số vùng của Anh phát âm giọng Mỹ, một số vùng của Mỹ phát âm giọng anh, nhưng nhìn chung thì giọng của phần đông Mỹ khác bởi BBC Pronunciation.

Về cách phát âm của người Anh cũng có nhiều điều cần nói. Đế quốc Anh (Liên hiệp Anh) bao gồm Britain (gồm nước Anh (England), Scotland, xứ Wales) và Bắc Ireland. Mỗi vùng sẽ có một chất giọng khác nhau. Thường cách phát âm của người Anh thường phân biệt giữa miền Bắc (Northern) và miền Nam (Southern). Và ranh giới của sự phân biệt giọng giữa hai miền không hề rõ ràng và còn gây tranh cãi. Nhưng thường những người thuộc vùng Lancashire, Yorkshire hoặc những quận (county) khác ở miền Bắc được xem là nói giọng Bắc. Tuy nhiên, việc học giọng BBC Pronunciation không có nghĩa là giọng này cao quý hơn hay dễ nghe hơn giọng khác, chỉ dơn giản là giọng này được nhiều giáo viên Anh Quốc chọn để dạy tiếng Anh cho người nước ngoài, và đây là giọng được mô tả đầy đủ nhất bởi nhiều tài liệu khoa học và được chọn để dùng trong các giáo trình cũng như từ điển tiếng Anh.

Có một từ được khá thịnh hành ngày nay khi nói về chất giọng Anh Anh là Estuary English (Tiếng Anh vùng cửa sông). Người ta sẽ tưởng rằng đây là loại chất giọng mới xuất hiện. Nhưng không, thuật ngữ này thực tế xuất hiện từ những quan sát của ngôn ngữ xã hội học khi thấy một số người vốn dĩ phát âm giọng BBC nay tiếp nhận một số tính chất của cách phát âm ở vùng Luân Đôn (cửa sông Thames) như là ngắt thanh hầu (glottal stops) – những đặc điểm phát âm vốn trước đây gây bình phẩm hoặc phản đối.

Các lưu ý:

Cách gọi tên BBC Pronunciation được đề xuất trong cuốn Daniel Jones English Pronouncing Dictionary (15th edition; edited and revised by P.Roach & J.Hartman, 1997), trong Trudgill (1999), và Ladeforged (2000).

BBC có khóa học về cách phát âm BBC, nhưng không thể thuyết phục các phát thanh viên sử dụng cách phát âm này. Nếu chúng ta có thể lựa chọn chất giọng mẫu mực, giọng Scotland và Ireland có thể là những ứng cử viên phù hợp hơn, vì mối quan hệ giữa chữ viết và âm gần với nhau hơn là BBC, và chúng cũng có hệ thống nguyên âm đơn giản hơn, và do đó dễ dàng hơn cho nhiều người học ngoại quốc. Tuy nhiên, đây là một khả năng hy hữu vì phần đông giáo viên đều ngần ngại khi áp dụng nhiều accent khác nhau trong lớp học.

Một vấn đề khác cần bàn luận là cách lựa chọn ký tự biểu thị âm vị. Trước đây, có rất nhiều cách đề xuất sử dụng những ký tự khác nhau giữa các tài liệu. Biểu tượng dùng trong khóa này được đề xuất bởi A.C. Gimson trong cuốn Introduction to the Pronunciation of English (1994). Ngày nay, cách dùng ký hiệu này được sử dụng trong hầu như mọi tài liệu về phát âm Tiếng Anh xuất bản ở Anh và có thể xem như tiêu chuẩn thực tế.

Với giáo viên:

Việc dạy phát âm chưa bao giờ phổ biến với những lý thuyết gia về giảng dạy ngôn ngữ, và vào thập niên 70 hoặc 80, nó bị xem là một hoạt động lạc hậu. Người ta cho rằng việc luyện phát âm cho giống người bản ngữ qua những bài tập lặp đi lặp lại chỉ gây nản lòng người học và không có ý nghĩa nhiều với giao tiếp. Gần đây, người ta quan tâm hơn đến việc dạy phát âm và nhiều ấn phẩm được xuất bản cũng viết về vấn đề này.

Không một khóa học nào mà tôi biết nói rằng người học phải cố gắng nói với giọng BBC hoàn hảo. Điều đó nhầm lẫn giữa hình mẫu (models) với mục tiêu (goals): hình mẫu được chọn là BBC, nhưng mục tiêu thường là để phát triển khả năng phát âm của người học một cách đầy đủ để giúp họ giao tiếp một cách hiệu quả với người bản ngữ.

Những bài tập về phát âm hiển nhiên có thể rất khó, nhưng là cần thiết để người học trở nên khá hơn. Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho là trọng tâm của việc giảng dạy về phát âm và âm vị tập trung một cách cứng nhắc về việc kiện toàn nguyên âm và phụ âm: Jones (1956 – xuất bản lần đầu 1909) có nói rằng cách phát âm tốt là cách phát âm mà hầu như mọi người dùng ngôn ngữ đó hiểu được; và ngược lại, cách phát âm tồi là cách phát âm mà phần đông không hiểu. Khi người nói có giọng khác người nghe, người nghe vẫn hiểu được, chẳng hạn như khi cả người Mỹ lẫn người Scotland cùng đánh giá là cách phát âm của một người nào đó là rõ ràng, thì không thể nào nói họ phát âm tồi được.

Gần đây, người ta viết nhiều về Tiếng Anh Quốc Tế International English. Nhưng đây là một phạm trù khác với được nêu trong cuốn sách này, vốn chỉ mô tả một giọng cụ thể. Vấn đề về phát âm mà những khảo cứu về International English đề xuất là Minimum General Intelligibility.

 

 

Standard
Sống

Gửi tôi 30

Sài Gòn, ngày 20 tháng 7 năm 2017

Chào người bạn to lớn,

Tôi thường nghĩ rằng cậu không còn sống để nhận được bức thư này. Nhưng dạo gần đây, trong những phút mơ mộng của mình, tôi nghe nói rằng cậu đang sống rất hạnh phúc. Thực ra tôi chả biết gì về cậu cả, và có lẽ trong những tháng ngày hạnh phúc của mình, cậu cũng đã dần quên tôi. Nên tôi muốn viết thư này để cùng cậu ôn lại một vài chuyện cũ.

Những ngày này là lúc tôi đang xin việc làm. Điều đáng nói là tôi chẳng biết mình phải làm việc gì cả. Hậu quả của việc trước giờ chỉ làm những việc mình thích là tôi trở nên rất nhanh chán và dễ từ bỏ. Dẫn đến tôi chẳng theo đuổi cái gì đến nơi đến chốn cả. Ngoài ra, tôi không tổ chức cuộc sống tốt, không cân bằng được giữa làm việc và các sinh hoạt khác.

Tôi có một cảm giác là những người có thể cân bằng tốt giữa lao động và tận hưởng cuộc sống là những người có ai đó để chia sẻ với họ: gia đình hoặc người yêu. Tôi không có người yêu. Còn gia đình thì cách tôi hàng ngàn năm ánh sáng về tâm tư tình cảm, nên tôi cũng không thể chia sẻ điều gì với họ. Còn bạn bè? Việc không có nền tảng gia đình lẫn tình yêu, cũng như trước đó vốn không phải là người quảng giao khiến tôi, mỗi khi làm bạn với một ai đó, luôn không biết phải đặt họ ở một vị trí nào trong tâm trí của mình. Đôi khi tôi đặt họ quan trọng hơn gia đình. Đôi khi tôi nhầm lẫn họ với người yêu. Đôi khi tôi nghĩ những gì mình có với họ giống như mối quan hệ đối tác. Tôi kết bạn rồi lại xóa bỏ họ khỏi cuộc đời mình. Sau những đóng góp, dựng xây, tôi đạp đổ hết mọi thứ.

Tôi luôn bị giằng xé bởi đúng và sai. Tôi luôn cố gắng nghĩ, nói và làm đúng. Nhưng rồi tôi lại tìm kiếm cả những quan điểm phản biện lại những cái đúng đó. Và rồi tôi bước vào một trạng thái đúng không còn là đúng mà sai cũng chẳng còn là sai nữa. Giờ đây, tôi không còn đủ tự tin để viết một cái gì bằng lời của riêng mình, mà tôi phải vay mượn từ ai đó.

Trong sự tiện nghi vật chất của mình, tôi đắm chìm trong những câu hỏi mang tính lý thuyết về mục đích tồn tại. Nhưng rồi thoát khỏi chúng, tôi lại phải đối mặt với những thủ tục của việc sinh tồn: ăn uống, công việc, tình dục và sự nghỉ ngơi. Tôi như một kẻ chỉ biết có đích đến mà không biết có quá trình. Có những trưa nắng, tôi chạy xe lòng vòng khắp thành phố mà không biết nơi nào để đến. Tôi không thể ở lì trong phòng trọ vì quá ngột ngạt. Các quán xá ở Sài Gòn chẳng có nơi nào mà tôi thuộc về. Tôi vừa muốn về nhà với gia đình, lại vừa muốn chạy xa khỏi họ. Tôi muốn đi đâu đó thật xa, nhưng lại bị ràng buộc bởi nhiều thứ mà mình không đủ ý chí để vứt bỏ.

Tôi lúc này như một kẻ không biết phải sống như thế nào cho ra sống. Và cũng chẳng có ai bên cạnh dạy tôi điều đó nữa. Và tôi cũng đã quá tuổi để học những bài học như vậy – người ta sẽ bực mình lên mất nếu phải chỉ vẽ một gã to xác điều đó.

Để tôi kể cậu nghe các giấc mơ của tôi nói gì về cậu. Chúng nói rằng cậu là một gã khỏe mạnh, giàu có, đẹp trai, sống hòa thuận với và chăm lo tốt cho gia đình, có một tình yêu đẹp, được vây quanh bởi những người bạn tốt. Và tôi thực sự bất ngờ vì không ngờ một kẻ từng như tôi hôm nay lại có thể có một cuộc sống mà với tôi lúc này là đáng mơ ước như vậy.

Nếu đọc được thư này, hãy gửi một thông điệp nào đó từ tương lai đến cho tôi lúc này, để tôi tìm được đường đến với cậu nhé, anh bạn to lớn.

Tuân.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Standard