Phía không người

Hai giờ sáng, Lịnh phóng chiếc Cup lao vào một vùng đen kịt của con hẻm vắng. Chỉ chưa đầy một phút rồ ga vút qua những cung đướng tối sáng, Lịnh đã ra đến đường lớn. Không gian lặng như một giấc mơ sâu. Chiếc xe của Lịnh như một con thú hoang khinh nhờn cái tĩnh lặng của đêm, và Lịnh tưởng như mình một kẻ ngoại lai với cái nhịp sống cố hữu của Sài Gòn. Dù rất thèm một cơn chợp mắt, Lịnh vẫn lạnh lùng lao đi với tốc độ vô cùng dứt khoát, mà kì thực Lịnh vẫn không biết mình sẽ phải đi đâu. Lịnh chỉ biết mình cần phải chạy đi đâu đó, đâu cũng được, phải chạy, chạy thật nhanh. Lịnh muốn gió đêm thổi bay những ý nghĩ rối rắm trong đầu mình và làm lắng xuống những xáo trộn trong tim mình. Lịnh bỗng nhận ra mình đang đi trên một đoạn đường quen thuộc, đoạn đường mà không ít lần trong cơn say hắn vẫn tìm về được. Con đường cũ ôm Lịnh vào lòng, Lịnh giảm tốc để hít một hơi sâu.
Trời đêm không trăng cũng không sao, tự bao giờ Lịnh không tìm kiếm những ngôi sao xa xôi kia nữa, hắn ngỡ đèn đường mới chính là những ánh sao. Mà trong một cự li gần như thế, đèn đường có đủ cốt cách để làm một ánh sao màu nhiệm cho Lịnh. Đèn phố với muôn vàn màu sắc khác nhau, chất chứa bao nhiêu cái hào nhoáng và xa hoa của chốn thị thành; và nếu bỏ qua sự thiếu tự nhiên, nó thật là một ánh sao lung linh huyền ảo. Con đường này không chỉ có một ánh đèn, mà một dãy những ngọn đèn lưng chừng nép mình dưới những tán me xuề xoà, những tán me một đôi lần lao xao khi gió thổi như thầm thì một điều gì rất riêng với nhau. Trong cái xa xăm dằng dặc của con đường trải dài những vệt sáng mơ hồ, Lịnh thấy chính mình đang đi giữa một cơn mơ tươi nguyên màu rêu nõn. Đẹp làm sao là một Sài Gòn không gắt gao nắng trưa, không tấp nập người xe và khói bụi.
Tấp vào một quán cóc nhỏ ven đường, gọi một li cafe, và rít một hơi sâu khói thuốc, Lịnh bắt đầu giải phẫu kí ức cùa mình.
Có tiếng đập mạnh cửa phòng. Lịnh đang loay hoay đánh máy bèn vội chạy ra. Lịnh mở cửa, và N. ngã ngay vào người Lịnh. Vô tình hít phải hơi thở đầy mùi rượu của N., Lịnh nhăn mặt “Sao anh mò được về nhà hay vậy?” và chẳng chờ đợi một sự trả lời nào. Lịnh lê anh vào, để anh nằm yên trên giường, và trở lại với công việc của mình, cái đoạn văn mà Lịnh đang viết dở. Lịnh viết kịch bản phim truyền hình. Thường là những bộ phim về các đề tài xã hội rất thông thường, những bộ phim giải trí mà người ta xem, theo dõi từng tập nhưng một thời gian sau sẽ chẳng nhớ nữa, những bộ phim mà có người vẫn gọi đó là phim thị trường. Lịnh cứ viết như thế đã nhiều lần để nhận một khoản tiền kha khá từ việc bán kịch bản. Nhưng Lịnh không phải là một kẻ bán chữ kiếm tiền, Lịnh đam mê viết lách, và hắn vẫn luôn ấp ủ một hoài bão lớn. Lịnh muốn viết một tác phẩm đẹp như hoa, trong từng chi tiết, một tác phẩm mà nội dung của nó phản ánh chân thực đến mức rờ thấy được cả những đớn đau và hạnh phúc, một tác phẩm mà giá trị của nó âm vang và lan rộng ra mọi ngõ ngách của cuộc đời, một tác phẩm mà ngày nay, ngày sau và ngày sau nữa, người ta vẫn nói về nó như một biểu tượng của lao động nghệ thuật chân chính và hoàn mỹ. Nhưng để có được tác phẩm như vậy, Lịnh biết mình sẽ phải đầu tư cả cuộc đời mình vào đó, và Lịnh không thể sống được ở đất Sài Gòn này chỉ với một niềm đam mê như thế. Lịnh phải viết nhiều tác phẩm khác nhau, thậm chí làm thêm nhiều công việc vặt khác. Lịnh viết những trang văn như thức ăn nhanh, nhưng Lịnh không lấy nó làm một sự dằn vặt lương tâm. Lịnh biết đây là bước cần phải có cho một bước tiến xa hơn, một yêu cầu tất yếu để hiện thực hóa một hoài bão lớn lao. Lịnh phải lấy ngắn nuôi dài, tích tiểu thành đại, bỏ qua những cái nhỏ nhặt để đạt được cái vĩ đại. May mắn là Lịnh có tài, cái tài của Lịnh khiến cho ngay cả những cái tủn mủn Lịnh viết ra cũng đủ đưa hắn lên một vị trí nhất định trong nghề nghiệp. Nhiều người ngưỡng mộ Lịnh, yêu quý, cậy nhờ lấy cái tài của hắn. Nhưng cũng có lắm kẻ ganh ghét Lịnh, châm chọt Lịnh, và tìm cách đẩy hắn xuống khi có cơ hội.
Tối nay, sau khi Lịnh đã đi làm về từ lâu, đã tự nấu bữa tối một mình và đang cật lực viết bài để nộp cho tòa soạn vào sớm mai thì mới thấy N. về tới nhà. N. sống cùng Lịnh trong một khu chung cư. N. làm việc cho một công ty nước ngoài và anh ôm cái mộng mà lắm thằng sinh viên kinh tế ra trường vẫn giành ôm lấy, mở một công ty riêng và làm giàu từ nó. Dạo gần đây N. hay về nhà trễ, có đêm không về. Có những khi về thì người say bí tỉ và nồng mùi rượu. Đôi khi N. tỉnh táo sau một đêm say, Lịnh vờ hỏi, nhưng N. chỉ im lặng hoặc bảo “chỉ là đi uống với đồng nghiệp”. Lịnh biết anh đang có một tâm sự riêng khó nói, và vì sợ anh nghĩ rằng mình quan tâm thái quá tới anh nên Lịnh không hỏi gì thêm. Đêm nay N. bỗng về nhà sau hai ngày biến mất, nỗi băn khoăn của Lịnh cũng theo trở lại, khiến Lịnh không tập trung vào công việc được. Loay hoay một lúc vẫn không ra ý tưởng viết tiếp, Lịnh lé mắt sang nhìn anh. Anh nhắm nghiền mắt. Và Lịnh không ngăn mình cứ nhìn anh như thế. Một phút, hai phút, rồi mấy phút trôi qua, Lịnh tưởng mình có thể ngắm anh mãi thế này mà không hề chán. Thật lạ là Lịnh luôn thấy N. đẹp, nhất là trong giấc ngủ. Khi ngủ, cái vẻ rắn rỏi lạnh lùng ban ngày như biến đâu mất, trên gương mặt ấy chỉ còn là một nét đáng yêu và trong trẻo đến hồn nhiên. Đã không ít lần Lịnh lén mở mắt nhìn N. đang say ngủ, và Lịnh có cái cảm giác run run vụng trộm của một con yêu tinh lỡ phạm vào điều cấm kị là nhìn ngắm một thiên thần của chúa. Ngay lúc này, khi người N. nồng nặc hơi men và gương mặt mệt mỏi phảng phất mưa nắng và khói bụi Sài Gòn, Lịnh vẫn thấy N. thật đẹp. Căn nhà nhỏ du dương tiếng nhạc hòa tấu từ chiếc máy hát cũ mà Lịnh rất yêu, xen vào giữa âm thanh trong trẻo ấy là tiếng thở đều đều của N. Không gian thật êm nhẹ và bình yên.
Sự lãng mạn này sẽ còn tiếp diễn nếu N. không bất chợt nhoài người ra thành giường và ọe một bãi vào cái giỏ mây đựng giấy vụn của Lịnh. Mọi thứ diễn ra thật nhanh khiến Lịnh chẳng kịp trở tay. Lịnh bịt mũi và thu dọn bãi chiến trường, lòng thầm cảm ơn vì cái con người ấy không ọe lên cái giường mà Lịnh vẫn nằm. Lịnh lấy khăn nhúng nước ấm, lau nhẹ lên gương mặt của N, lau dọc sống mũi thon cao, lau thật chậm bờ môi. Lịnh thấy trong lòng mình trỗi dậy cái ham muốn quen thuộc mỗi khi gần N., Lịnh muốn hôn N, nếu nó không được là một nụ hôn sâu và nồng cháy, thì chỉ cần là một cái phớt nhẹ của xúc giác, cũng cho Lịnh một sự mãn nguyện rồi. Cái ham muốn ấy đã không ít lần gặm nhấm tinh thần của Lịnh, nó khiến Lịnh thấy mình thật tầm thường và thật vật chất, nó đôi khi khiến Lịnh run lên bần bật và thở gấp, nhưng lòng tự trọng và lí trí luôn níu giữ Lịnh lại ở cái ranh giới mỏng manh ấy. Và Lịnh vượt qua được nó. Nhưng hôm nay, nó lại trỗi dậy trong Lịnh, ngay khi N. đang say, đang rất say. N. đang rất say, vậy tại sao Lịnh không thử chạm vào đôi môi ấy nhỉ? Không rõ vô thức hay cố tình, Lịnh đưa tay chạm bờ môi N. Và dường như có một nguồn lực vô hình điều khiển, Lịnh từ từ đưa sát mặt mình lại và hôn lên bờ trán rộng rãi của N. Nhưng khi cú va chạm xúc giác diễn ra, Lịnh mở bừng mắt, sợ hãi đẩy mình ra xa. N. vẫn đang nhắm nghiền mắt nhưng Lịnh thấy như chính mình vừa làm một điều gì tội lỗi. Lịnh bần thần một lúc, rồi hắn vò đầu bứt tai. Lịnh nhìn gương mặt vẫn đang ngây thơ say ngủ kia và thấy mình bối rối ghê gớm. Một nỗi bi quan không tên xâm chiếm tâm hồn Lịnh. Lịnh không thể chịu đựng được một phút giây nào nữa. Hắn phải làm gì đó, phải đi đâu đó.
Lịnh với tay lấy chìa khóa xe, mở cửa và lao vào đêm tối…
Advertisements
di-qua-nhung-phong-tung-hinh-hai

Đi qua những phóng túng hình hài

Tôi sinh ra với một vết bớt màu mận chín. Những người hàng xóm quanh nhà tôi bảo người có vết bớt màu tối nằm gần tim là những kẻ có “lòng dạ xấu xa”. Họ cho là thằng bé lớn lên sẽ trở nên ranh ma xảo quyệt và không phải người tốt. Mẹ tôi vô cùng lo lắng, tìm cách xóa vết bớt ấy đi. Nghe lời của những ông bà lớn tuổi trong xóm, mẹ bế tôi sang nhà một bà cụ chết đột ngột do bị cảm, lấy ngón tay trỏ của xác chết quệt vào bết bớt tôi bảy cái, vừa quệt vừa lẩm bẩm “cụ đi mang theo hộ cháu nhé”. Sau đó vết bớt vẫn không mất đi. Mẹ lại nghe theo người ta, lấy quả trứng gà mới đẻ còn ấm nóng chườm lên chỗ có bớt liên tục như vậy chín lần. Vết bớt mờ đi rồi mất hẳn, mẹ tôi rất vui mừng.

Năm tôi 18 tuổi, sau khi ba mất, tôi thú nhận với mẹ chuyện mình thích con trai và không có cảm xúc với con gái. Mẹ tôi kiên quyết cho rằng xu hướng tính dục không phải bẩm sinh mà có, mà là do bị lây nhiễm từ xã hội nên cứ nằng nặc đưa tôi đi khám chữa cho bằng được. Thời gian trôi qua, nhận thấy không thể thay đổi được gì, mẹ hay xin lỗi vì đã không dạy dỗ tôi trở thành một người đàn ông bình thường. Mỗi lần như vậy tôi đều bảo mình rất hài lòng với con người hiện tại và rằng mẹ là một người mẹ rất tuyệt vời. Cũng thời gian này, đột nhiên tôi thấy một vệt đen hình tam giác ngược to xuất hiện trên ngực trái của mình. Và hỏi mẹ thì mẹ bảo đó là hình dáng của vết bớt ngày xưa. Không hiểu vì sao nó đã trở lại. “Có những vết bớt không thể xóa được!”, mẹ tôi nói bâng quơ trong một lần trò chuyện.

di-qua-nhung-phong-tung-hinh-hai-01
Như những người trẻ quanh mình, tôi thích thời trang, và những cách thức để biến đổi cơ thể mình sao cho khác đi. Những bộ quần áo, vòng đeo tay hay dây chuyền hợp thời, một lớp trang điểm nhẹ cùng với một chút nước hoa có thể biến tôi trở thành một ai đó đẹp hơn, tốt hơn, hay quyến rũ hơn với con người thật của mình. Điều khiến tôi thấy buồn cười là khi cởi bỏ hết tất cả quần áo và nhìn chính mình trước gương, chỉ có một thứ duy nhất khiến tôi dán mắt vào, và khiến tôi thấy mình đặc biệt: vết bớt hình tam giác ngược sẫm màu trên làn da trắng xanh ngực trái.

19 tuổi, tôi có hình xăm đầu tiên: dòng chữ nothing impossible ở mặt trong bắp tay. Đó là giai đoạn tôi luyện thi đại học và nghĩ rằng hình xăm này sẽ tiếp thêm cho mình động lực học tập. Thật ngớ ngẩn! Mẹ tôi đã la tôi nguyên cả buổi chiều. Đợt đó tôi vẫn thi trượt. Nhiều năm sau này mấy lần tôi muốn xóa hình xăm này nhưng rồi lại thôi.

Sau đó, tôi bắt đầu học để trở thành một thợ xăm. Tôi nhận thấy mình làm việc này khá tốt. Thầy dạy vẽ bảo tôi có năng khiếu hội họa: phát thảo nhanh, tay vẽ chắc, cảm nhận màu sắc tốt, nhất là sáng tạo. Vậy mà trước giờ, chưa ai nói với tôi điều đó cả. Mẹ và những người xung quanh luôn muốn tôi trở thành bác sĩ, kỹ sư. “Chẳng ai muốn con mình trở thành một thợ xăm cả!”, mẹ tôi có lần nói vậy.

Mẹ tôi mất vào tháng tám năm tôi 25 tuổi. Mãi ba tháng sau đó, tôi mới bắt đầu quen với sự thật là căn nhà chỉ còn lại mỗi mình mình. Mỗi khi làm những việc mà trước đây mẹ tôi hay làm cho tôi – nấu ăn, giặt giữ, tôi đều thấy nhớ bà. Tôi nhớ những khi bà la mắng về việc tôi về nhà khuya khiến bà phải hâm đồ ăn lại. Những câu trách mắng, khi nhớ lại, làm tôi vừa buồn cười, vừa thấy trống trải. Người duy nhất phàn nàn hay ngăn cấm việc tôi nhuộm tóc, xỏ khuyên hay xăm hình đã không còn nữa, và cũng chẳng còn ai trên cõi đời này thực sự quan tâm đến việc tôi đối xử như thế nào với cơ thể của mình.

Tôi dần không còn hứng thú với việc thay đổi ngoại hình nữa mà tập trung vào sự nghiệp. Tiệm xăm khá đông khách, hầu hết là những người trẻ. Họ, hoặc đã nghĩ ra một hình xăm nào đó, hoặc mơ hồ và đến nhờ tôi tư vấn, đều là những người muốn tìm kiếm một dấu ấn nào đó đặc trưng cho riêng mình. Phần lớn hình xăm được chọn là một biểu tượng, một cái tên, hay một câu châm ngôn ngắn – những thứ trong quá trình sống họ trải nghiệm và thấy quan trọng với mình, theo cách này hay cách khác.

di-qua-nhung-phong-tung-hinh-hai-01
28 tuổi, tôi bị bỏng khí ga một mảng to trên ngực. May mắn là không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, nhưng vẫn phải nằm viện vài ngày. Sau khi tháo băng, tôi trở về nhà, nhìn chính mình trong gương. Vết bớt đã không còn, chỉ còn lại một vùng da đỏ hỏn, nhăn nheo, bóng lưỡng to bằng cả bàn tay. Không hiểu sao lúc ấy, cảm giác về thời gian trong tôi trở nên rõ ràng. Làn da quanh vết sẹo đã sạm màu đi nhiều, những dải cơ quanh bắp tay có hình xăm vẻ như chùng xuống, mái tóc xơ đi vì nhuộm rủ xuống gương mặt góc cạnh và che đi một phần vành tai phải có đeo khuyên kim loại. Và tôi nghiêm túc tự hỏi mình, nếu tôi mất đi không chỉ vết bớt, mà cả đôi tai, tay chân hay một bộ phận nào đó của chính mình, liệu tôi có còn là tôi? Liệu những thứ mà tôi đã đắp thêm lên cơ thể của mình có thực sự có ý nghĩa trong việc làm nên con người của tôi?

Cơ thể này đã đi qua hết những tiếp nhận lẫn khước từ, kiêu hãnh lẫn định kiến để trở nên nó của ngày hôm nay. Chúng ta được sinh ra với một tổ hợp gen bất định và bị quẳng vào một thế giới với đầy rẫy những biến cố không thể nào lường trước. Mỗi một dấu tích cơ thể, dù là di truyền hay do môi trường tác động, đều có ý nghĩa với chu trình sống cá nhân. Và khi tự hỏi mình phải đối xử như thế nào với chúng, với cơ thể của mình? Tôi lại như nghe thấy những lời của mẹ ngày xưa “hãy yêu thương cơ thể con vì nó là cái bình để chứa linh hồn”.

Bài: Trịnh Nhật Tuân
Illustration: Livia Falcaru

Xì-gà sau giao hoan

Từ cách đây một phút, S. có cảm giác có ai đó đang đi theo mình, dù nhìn trước ngó sau S. vẫn chẳng thấy ai khác.  S. thầm trách mình đã đọc tiểu thuyết kinh dị nhiều quá. Lúc này là 11 giờ đêm, tiếng bước chân S. là âm thanh duy nhất náo động cái tĩnh mịch của con đường vắng. Đột nhiên ở khúc rẽ ngoặc sang một con hẻm, nơi có ánh đèn đường mờ nhạt, một gã đàn ông thấp lùn và đậm người từ trong bóng tối xuất hiện. S. vội xoay người đi ngược lại, thì chạm mặt một gã đàn ông cao lênh khênh. Lúc này cả hai người bọn họ tiến dần về S., cậu vội tìm cách lách mình qua khe hở để chạy khỏi hẻm, nhưng lại bị gã lùn tóm được. S. tìm cách giằng ra khỏi bàn tay ấy trong lúc miệng la lớn kêu cứu. Một bàn tay to đùng bịt miệng S. lại. Cậu cắn mạnh vào bàn tay ấy. Gã cao la lớn, rồi đấm vào mặt S. một phát. S. choáng váng.

Giữa lúc ấy, đột nhiên có một bóng phụ nữ dong dỏng cao tiến lại và đấm đá túi bụi vào mặt và bụng hai gã kia. Đó là một cô gái chừng hai mấy tuổi. Dù gã lùn rút dao găm ra, nhưng cô gái này không hề nao núng, mà rất nhanh lẹ đá văng con dao của gã đi, không quên bồi thêm một cú lên gối ngay mặt gã.

Trong lúc cả hai tên đó còn đang choáng váng, cô gái nọ xốc S. lên và kéo S. chạy ra khỏi con hẻm. S. một mắt nhắm một mắt mở chạy theo. Tới đường lớn, đông người và sáng đèn, cô gái lúc này dừng lại, và nâng mặt S. lên, xem xét vết bầm bên mắt phải của S. rồi bảo cậu từ từ mở mắt phải ra. S. cố gắng mở đôi mắt nhòe nước mắt của cậu ra.

“Không sao, không bị nguy hiểm đến mắt. Chỉ bị bầm ngoài da, một thời gian sẽ bớt thôi.”

Lúc này S. mới nhìn kỹ cô gái, cô ta cao chừng 1m75, gương mặt ưa nhìn với cái miệng khi cười có thể làm sáng bừng cả gương mặt.

“Lần sau ở khu này cậu đừng đi đường vắng nhé. Ở đây không được an ninh lắm đâu.”

“Cảm… cảm ơn.”

“Không có gì đâu. Thôi tôi đi nhé.”

S. còn chưa kịp hỏi danh tính cô gái đó thì cô ta đã đi mất. S. nhìn theo cái dáng dong dỏng cao đó lúc này đã ở một quãng xa, tiếc ngẩn ngơ.

***

“Cậu mất trí rồi à? Tớ chẳng đã bảo là nhà này đã đủ chật chội rồi, không nên có thêm người vào nữa sao?” S. suýt phun ngụm nước trong miệng ra màn hình laptop khi nghe Minh bảo rằng vừa rủ một cô gái ở chỗ làm đến ở cùng.

“Có sao đâu? Còn một cái phòng ngủ trống chẳng để làm gì. Có thêm người vào ở thì nhà mình sẽ ấm cúng hơn!” Minh đáp lại với vẻ mặt hồn nhiên, càng khiến cho S. càng muốn nổi nóng.

“Okay, sự dễ dãi của cậu bắt đầu làm tớ cảm thấy mệt mỏi rồi đấy! Ngưng cái ý tưởng đó lại ngay đi.” S. vừa nói vừa tắt máy tính.

“Sao vậy? Cô đó tốt lắm, lại dễ thương nữa. Đi mà S.!” Minh bắt đầu giở giọng năn nỉ.

S. biết thể nào Minh cũng dùng chiêu này. Cách tốt nhất để không bị thao túng là nên tỏ ra cương nghị và chấm dứt cuộc hội thoại càng nhanh càng tốt.

“Không nói nhiều nữa. Tớ không muốn tranh cãi về chuyện này, vậy nên tớ muốn nhắc cậu nhớ lần cuối, đây là nhà của tớ và tớ không muốn có thêm bất cứ một ai xuất hiện trong căn nhà này nữa. Cậu hãy bảo cô ta là chuyện đó không bao giờ xảy ra nhé!” Nói xong, S. gấp laptop lại và bỏ vào phòng. Minh ngồi tiu ngỉu.

***

Quán bar tối giữa tuần mà cũng khá đông khách. Sau khi ban nhạc tạm nghỉ 10 phút, Minh lại quầy bar xin ly nước lọc uống.

“Hey June, anh vừa hỏi lại bạn anh thì nó bảo là không được em à! Xin lỗi em nhiều!”

“Vậy à? Thôi không sao đâu anh, còn nhiều chỗ trọ mà, em kiếm chỗ khác cũng được.” June mặt hơi buồn nhưng rồi lại cười tươi ngay.

“À mà tối nay hình như nó cũng đến đây chơi á! Mà sao giờ chưa thấy xuất hiện không biết nữa.”

“Ai?”

“S., thằng bạn chung nhà với anh!”

“À! Hai anh quen nhau thế nào?”

“Để xem. Ôi chuyện dài lắm, kể đến mai cũng không hết nữa. Hôm nào có thời gian sẽ kể em nghe.”

Ngay từ lần đầu tiếp xúc, June đã thật sự bị ấn tượng bởi Minh. Hiển nhiên rồi, một anh chàng cao ráo, điển trai như Minh chỉ cần bước vào quán bar thôi là biết bao cái đầu phải ngoái lại nhìn. Không những vậy, lúc nói chuyện, biểu cảm của gương mặt anh biết đổi rất linh hoạt. Như khi nói câu vừa rồi, Minh chống cằm nhìn lên cái chao đèn vàng trên trần nghĩ ngợi chừng vài giây rồi lắc nhẹ đầu. Sau đó đưa ly nước lên uống một ngụm. Đặt ly nước xuống, Minh nói nốt câu cuối và kết thúc bằng một cái háy mắt và nụ cười rất tươi. Tất cả những chi tiết đó có thể trở nên rất kịch nếu một người bình thường làm, nhưng ở Minh chúng thật tự nhiên. Anh chàng như một tài tử phim thần tượng bước ra ngoài đời thực.

“Anh Minh, nếu anh mà không cho em xem chứng minh thư chắc em không bao giờ tin anh 30 tuổi luôn ấy! Em 23 tuổi mà đi chung với anh có khi người ta còn tưởng em là chị anh nữa!”

“Ha ha, em nói quá rồi! Nhìn em trẻ đẹp mà!”

“Mà sao em chưa bao giờ thấy anh dẫn bạn gái đến đây chơi nhỉ? Anh có gay không đó?”

“Ha ha, anh thẳng 100% nhé. Chẳng qua chưa gặp người phù hợp thôi!”

Cung, ca sĩ chính của ban nhạc và cũng là nhóm trưởng, ra hiệu bảo Minh trở lại sân khấu. Ban nhạc của Minh có tên là Mặc Khải, gồm 4 thành viên, tự sáng tác và chơi rock theo phong cách slowcore, ambient, dream pop. Bọn họ chơi nhạc cho quán bar Spectacle này đã hơn một năm nay.

Mãi đến gần cuối đêm nhạc, giữa lúc ban nhạc đang chơi bản Cách ngôn của Sisyphus, từ cửa bước vào một anh chàng trạc tuổi June. Anh ta lách qua những người đứng ngồi lắc lư theo điệu nhạc để tìm đến một chiếc ghế ở quầy bar. Quầy bar là vị trí rất khó thấy sân khấu nên ít người ngồi. Lúc này chỉ có một cặp đôi đang thì thầm gì đó vào tai nhau rồi hôn và cười. Và một người đàn ông trung niên ngồi bấm điện thoại. Anh chàng nọ xem thực đơn nước uống một lượt rồi ngẩng lên gọi:

“Cho một Gin Tonic…”

Câu nói bị bỏ dở lúc ánh mắt anh ta chạm ánh mắt June. June cũng khựng lại.

“Là cô à?”

“Là anh sao?”

Cả hai cùng đồng thanh, rồi cùng cười vì sự trùng hợp đó.

“Cô làm ở đây à?”

“Đúng vậy, tôi làm nhân viên pha chế ở đây.”

“Ồ, vậy mà tôi không biết, bạn tôi chơi nhạc ở đây!”

“Ai?”

“Danny. À nhầm, tên Nhật Minh, anh chàng guitarist chơi trong ban Mặc Khải này nè.”

“Hả? Hóa ra anh là bạn chung nhà của Minh à?”

“Ừ đúng rồi. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi đến đây. Tôi không ngờ sẽ gặp lại cô ở đây!”

Lúc này ban nhạc đã dừng chơi, khách cũng dần về bớt. Minh bước đến chỗ June và S. đang nói chuyện.

“Ôi hay quá, hai người đã làm quen nhau rồi à. Giới thiệu với June, đây là S., bạn chung nhà của anh. S., đây là June. Là cô bạn muốn đến ở cùng mà tớ có nói với cậu á!”

Gương mặt S. há hốc mồm và như bị nhúng vào thùng nước đá. June mỉm cười, bảo:

“Thực ra em có biết anh này từ trước rồi.”

“Ồ vậy sao?”. Gương mặt Minh vừa ngạc nhiên vừa phấn khích. Anh quay sang hỏi S. “Thật hả S.?”

“Ờ…”, S. chừng như còn đang định thần lại.

“Chuyện là sao vậy?” Minh hào hứng hỏi June.

“À, hôm nọ trong lúc đi làm về em vô tình thấy ảnh bị bọn xấu bắt nạt nên chạy lại giúp thôi! Nhưng mà em đi vội quá nên không kịp hỏi tên nhau.”

“Ớ, hóa ra em chính là cô gái đó à?”

“Cô gái nào anh?”

“À, là cô gái mà thằng S. nó có kể đã giải thoát nó khỏi vòng vây của bọn trấn lột bằng kỹ năng nhu thuật điêu luyện. Ôi em không biết đâu, nó gọi em là thánh nữ và đêm ngày thầm thương trộm…” Minh chưa kịp nói hết câu đã bị S. bịt miệng lại và ra hiệu ngừng nói.

Sau đó, S. đột ngột quay sang June hỏi:

“À June, nghe đồn bạn đang tìm nhà trọ hả, hay bạn qua ở chung với 2 tụi mình đi. Nhà rộng lắm. Mỗi người một phòng.”

“Ơ, thằng này…” S. ra hiệu Minh im lặng.

“Ủa, mình tưởng anh Minh nói bạn không đồng ý?”

“Cái gì? Có đâu, Minh chỉ là hiểu nhầm ý mình thôi, ý mình là hiện tại nhà mình đang sửa chữa nên chưa có thể có thêm người ở được. Nhưng tháng sau là sửa xong rồi, tụi mình cũng đang kiếm người ở cùng. Đúng không Minh?” S. quay sang nhìn Minh với vẻ mặt kiểu “Nếu anh dám nói không thì tôi sẽ giết anh ngay!”

Minh gật gật.

“Ôi hay quá, vậy tháng sau mình chuyển qua được rồi hả?”

“Ừm, nhà rộng rãi lạnh lẽo lắm, có thêm người sẽ ấm cúng hơn!”. S. mỉm cười đáp lại.

Tới lượt Minh há hốc mồm không biết thằng bạn mình nó có còn tỉnh táo không.

Giữa lúc ấy ông chủ ra hiệu mọi người dọn dẹp để đóng cửa. Minh và S. tạm biệt June để về nhà. Lúc chia tay, S. còn không quen xin số điện thoại liên lạc của June.

***

“Okay, cậu làm tớ hơi bất ngờ đấy, cậu thích June à?”. Minh hỏi trong lúc chở S. ngồi phía sau trên đường về nhà.

“Có thể là vậy!”

“Wow, cậu làm tớ ngạc nhiên đấy. Trước giờ tớ tưởng cậu không thích con gái?”

“Chậc chậc, no no. Tôi thẳng nhé ông. Chẳng qua chỉ là chưa tìm được đối tượng phù hợp thôi!”

“Vậy á? Điểm gì ở June làm cậu thích thế?”

“Mạnh mẽ. Tớ luôn muốn tìm một người phụ nữ có thể bảo bọc che chở tớ khỏi những sóng gió cuộc đời.”

Cách nói nửa đùa nửa thật của S. làm Minh cũng buồn cười.

“Cậu thật là quái đản. Đàn ông mềm yếu tìm kiếm một người đàn bà mạnh mẽ để che chở mình!”

“Có gì quái đản đâu, tớ thấy bình thường mà!”

“Ừm, như vậy có lẽ hợp hơn, vì cậu còn không cao bằng cô bé đó nữa! Ha ha!”

“Đừng đụng chạm vào chiều cao của tôi nhé!”

“Okay, sorry, sorry. Đanh đá quá sức!”

Từ đó đến lúc về tới nhà, các lượt nói chuyện thưa hẳn. Hình như cả S. lẫn Minh đều theo đuổi những suy nghĩ riêng.

[Lịch sử thiết kế] Phong trào Bauhaus

Khoảng giữa thế kỷ XVIII, cách mạng công nghiệp tuy đã lắng xuống, nhưng ở châu Âu vẫn còn dấy lên những tranh luận về tính thẩm mỹ của các sản phẩm được tạo ra bằng quy trình sản xuất hàng loạt. Nhiều trào lưu đã phát sinh để tìm cách giải quyết bài toán về sự đối lập giữa quy trình sản xuất công nghiệp và tính thẩm mỹ của sản phẩm, mà rộng hơn là giữa khoa học kỹ thuật và nghệ thuật, giữa máy móc và con người. Nhưng hầu như lời giải tối ưu – toàn diện – nhất quán – lâu dài nhất lại đến từ một trường đào tạo mỹ nghệ ở Đức có tên là Bauhaus.

Bauhaus được thành lập năm 1919 bởi kiến trúc sư Walter Gropius. Trong khoảng 14 năm tồn tại (1919-1933), trải qua 3 thế hệ hiệu trưởng (Walter Gropius, Hannes Meyer và Ludwig Mies van der Rohe), di dời địa điểm 2 lần (từ Weimar chuyển sang Dessau năm 1925, rồi lại từ Dessau chuyển sang Berlin năm 1932), Bauhaus đã để lại những di sản to lớn cho nghệ thuật, kiến trúc, lẫn thiết kế mà không thể nào nói hết.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin trình bày 3 vấn đề: triết lý của Bauhaus, những đóng góp lớn nhất của Bauhaus đối với thiết kế nói chung và ngành thiết kế đồ họa nói riêng.

1. Triết lý của Bauhaus:

Tính toàn thiện, hoàn chỉnh của mọi thiết kế: Bauhaus muốn liên kết các loại hình nghệ thuật tạo tác từ kiến trúc, điêu khắc đến hội họa với kỹ thuật và thủ công mỹ nghệ; cũng như tái lập và đúc kết kinh nghiệm từ tất cả những trường phái mỹ nghệ trước đó để tạo ra những sản phẩm có tính nhất quán và hoàn chỉnh về tinh thần, nội dung lẫn hình thức. Gropius quan niệm mọi nghệ thuật thị giác đều phải hướng đến việc thiết lập một tổng thể có tính vật chất, cụ thể là không gian sống, nhằm làm địa hạt cho các trải nghiệm giác quan của con người văn minh. (Theo đó, mỹ thuật thuần túy sẽ trở thành mỹ thuật ứng dụng, và cùng với tri thức về khoa học kỹ thuật và tính phổ cập đại chúng, nó trở thành khái niệm ‘thiết kế’.)

Thiết kế hướng đến bình đẳng xã hội: Về phía người tạo tác, sẽ không còn phân biệt giữa nghệ sĩ và nghệ nhân thủ công mỹ nghệ hay người sản xuất, không còn ngăn cách về địa vị, năng lực, sự phù phiếm hay kiêu ngạo… vì nghệ nhân đồng thời là nghệ sĩ, nghệ sĩ đồng thời là kỹ sư, tất cả những kiến thức đa ngành sẽ được hội tụ lại ở 1 con người để đảm bảo tính toàn thiện và hoàn chỉnh. Về phía người tiêu dùng và thưởng lãm, các sản phẩm được tạo ra sẽ hướng đến sự giản tiện, tiết kiệm và đồng nhất để phục vụ cho sự tiêu dùng của toàn dân – bất kể họ thuộc giai tầng xã hội nào.

(Hai điều trên được thể hiện ở Bauhaus Manifesto năm 1919 của Walter Gropius)

Hình thức phải tuân theo chức năng: Dù tạo tác của thiết kế có là một cái ghế, một cái tủ hay một ngôi nhà, thì hình thức của nó cũng phải trung thành với chức năng của chính nó, nghĩa là, nó phải hữu hiệu, bền chắc, kinh tế và đẹp.

Giản tiện trong sự đa dạng, tiết kiệm về không gian, chất liệu, thời gian, tiền bạc: Bauhaus khuyến khích sự khám phá những chất liệu mới, sự tìm tòi nghiên cứu những kỹ thuật mới. Song, với thiết kế, mỗi cá nhân phải sáng tạo dựa trên nền tảng truyền thống để phát triển những sự mới mẻ trong thiết kế; nghĩa là, thiết kế phải tuân thủ những luật lệ nguyên tắc của thời đại, không có những chi tiết bóng bẩy, phù phiếm không cần thiết. Sự giới hạn về những đặc điểm thiết kế, hình dạng và màu sắc là để đảm bảo khả năng tái thực hiện bởi những người khác trong sản xuất công nghiệp trên quy mô lớn. Việc thiết lập tiêu chuẩn trong thiết kế là để đảm bảo cho sản xuất công nghiệp để phục vụ đại chúng. Trong kiến trúc, cụm từ “tính công năng” có thể dùng để mô tả đặc điểm này.

(Hai điều trên được thể hiện ở Principles of Bauhaus Production năm 1926 của Walter Gropius)

2. Di sản của Bauhaus trong thiết kế

Chương trình đào tạo thiết kế của Bauhaus: đây là chương trình đào tạo được xây dựng và phát triển cho đến hoàn thiện bởi nhiều thế hệ giảng viên của Bauhaus từ Walter Gropius, Johannes Itten, László Moholy-Nagy đến Josef Albers. Chương trình này tích hợp các kiến thức về mỹ thuật thuần túy lẫn thiết kế. Nó bắt đầu bằng một khóa sơ bộ để giúp học viên làm quen với chất liệu, lý thuyết về màu sắc, đường nét, hình khối và các “đơn vị” cơ bản nhất của nghệ thuật thị giác… để chuẩn bị cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn.

Tiếp đó, học viên sẽ được đến các workshops để học song song với thực hành tạo ra những sản phẩm của riêng mình. Những workshops này được phân loại theo chất liệu, bao gồm đồ kim loại, đồ gỗ, dệt may, đồ gốm, typography và vẽ tranh tường. Từ 1925 trở về sau, Bauhaus mở thêm nhiều workshops về các chất liệu khác, về photography, và cả kiến trúc.

Thời kì đầu, mỗi workshop có 2 giáo viên, 1 chuyên về kỹ thuật và 1 chuyên về mỹ thuật. Về sau, khi trình độ mỗi giáo viên được nâng cao, đồng thời 1 số học viên xuất sắc được giữ lại giảng dạy, chỉ còn cần 1 giáo viên đảm nhiệm workshop.

Chương trình đào tạo thiết kế của Bauhaus là chương trình đào tạo thiết kế hoàn chỉnh đầu tiên, làm nền tảng cho sự ra đời của các chương trình đào tạo thiết kế ngày nay, trong đó có thiết kế đồ họa.

Bauhaus đã khẳng định một điều tạo tác cái đẹp là một năng lực có thể được truyền dạy và khơi nguồn từ chính mỗi người

Cơ sở lý thuyết của mỹ thuật ứng dụng:

Trong suốt thời gian tồn tại của mình, thông qua những workshops, những buổi triển lãm, những tạp chí và sách được biên soạn bởi những giảng viên và học viên xuất sắc, Bauhaus đã để lại những lý thuyết quan trọng trong lĩnh vực thiết kế mà đến nay vẫn còn được đánh giá cao:

1. Lý thuyết thị giác Gestalt: Bauhaus vận dụng công trình nghiên cứu mang tính phổ quát của thị giác con người này để đề xuất những phát kiến của mình về thiết kế. Lý thuyết Gestalt đề xuất khái niệm về similarity/continuity; closure/proximity; figure-ground; symmetry.

2. Functionalist Typography: Typography của Bauhaus chịu ảnh hưởng bới triết lí về “tính công năng”. Theo đó, chữ được đối xử như đúng mục đích sử dụng của nó – phương tiện giao tiếp. Vì vậy, Bauhaus hạn chế mọi biến đổi thêm thắt đối với các chữ cái. Mặt khắc, Bauhaus hướng đến sự cắt giảm các chi tiết thừa của con chữ nhưng vẫn đảm bảo tính dễ đọc, ngắn gọn, đơn giản. Bauhaus hầu như chỉ tập trung phát triển chữ Sans Serif, phủ nhận font Serif và font Black Letter của dân tộc Đức hiện thời vì cho là chúng cầu kì một cách thừa thải, thiếu tính bình đẳng, tính đại chúng và tính quốc tế. (Điều này về sau là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự kềm cặp về chính trị của Đức Quốc Xã đối với Bauhaus) Bauhaus xem chữ có sức nặng tương đương hình ảnh, và đối đãi với nó như với shape vậy. Những đặc tính nổi bật nhất của typgraphy của Bauhaus là clean lines, less is more, geometric foundation và text as shapes.

3. Negative Space: tức khoảng trống, vùng không gian không có một objects hay text gì cả. Khác với Expressionism ngay trước đó, các nghệ sĩ Bauhaus cảm thấy sự dồn nén, sát khít và quá mức của các đối tượng hình ảnh gây ra một sự khó chịu và thiếu lí tính, đồng thời không thể được cảm thụ hiệu quả bởi đại chúng. Họ nhận ra việc tận dụng khoảng trống có giá trị quan trọng trong việc tạo ra tính cân bằng và hài hòa của thiết kế. Và họ đã áp dụng điều này không chỉ trong hội họa, mà trong cả điêu khắc, nhiếp ảnh, kiến trúc…

4. Geometric Abstraction: Không gian hai chiều trong tạo hình mỹ thuật của Bauhaus đã thay đổi cách thể hiện truyền thống bằng cách triệt tiêu các nỗ lực tả thực. Các shape được ngăn cách ra bởi những line màu với độ dài biến đổi. Wasily Kandinsky, Paul Klee, Johannes Itten, Oskar Schlemmer, Laszlo MoholyNagy, và Josef Albers đều tin là việc sử dụng những hình học cơ bản là cách thể hiện phù hợp nhất của thời hiện đại. Trong cuốn Point and Line, Kandinsky nói, “Một cách tự nhiên nhất, kiến thức khoa học mới của mỹ thuật có thể phát triển khi cho phép những dấu hiệu được trở thành biểu tượng và mắt nhìn và tai nghe của con người tự biết mở ra một con đường từ tĩnh lặng đến ngôn từ.“

5. Lý thuyết về màu sắc: Lý thuyết về màu sắc của Bauhaus được khai mở đầu tiên bởi Johannes Itten với các lý thuyết về hue, saturation, sự nóng lạnh của màu sắc, về khả năng phối màu… mà đến ngày nay vẫn còn được dạy ở nhiều nơi. Về sau Josef Albers mở rộng thêm lý thuyết này tới cái ảo giác về màu sắc, tác động của chúng lên nhận thức và tình cảm con người… khi nghiên cứu và phân tích nó dưới ánh sáng của tâm lý học. Đây là những đóng góp rất quan trọng trong lý thuyết về sử dụng màu sắc trong thiết kế đồ họa đương đại.

Một trong những điều được kể lại rất nhiều là những giảng viên lẫn học viên ở Bauhaus thực sự đã xây dựng được một cộng đồng cùng chung sống và làm việc tích cực, hiệu quả và giàu tình cảm. Họ luôn đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau.

Mặc dù các giảng viên lẫn học viên ở Bauhaus đã nỗ lực rất nhiều trong việc duy trì hoạt động và cộng đồng Bauhaus, năm 1933, dưới sức ép của Quốc Xã, Bauhaus buộc phải đóng cửa. Những giảng viên ở Bauhaus lưu lạc ở nhiều nơi khác nhau, nhiều người nhập cư ở Liên Xô hoặc Hoa Kỳ. Ở những nơi này, họ được ưu ái giao những vị trí giảng dạy ở những trường Đại học hoặc Cao Đẳng về thiết kế và mỹ thuật ứng dụng. Nhiều nơi trên thế giới cũng ráo riết tìm kiếm và tuyển dụng những người từng được học tại Bauhaus để giúp họ phát triển mô hình đào tạo tương tự. Tuy Bauhaus đã không còn, nhưng tất cả những con người ở học viện Bauhaus ngày trước đã mang những di sản vô giá của 14 năm qua ấy lan tỏa ra khắp thế giới. Sức ảnh hưởng của những di sản ấy vẫn tồn tại đến tận ngày nay.

THAM KHẢO

[1] Group project for ART 328: History of Graphic Design. Fall 2014. The building blocks of Bauhaus

[2] Michael Erlhoff & Tim Marshall, Design Dictionary, Perspective on Design Terminology (2008)

[3] Walter Gropius, Bauhaus Dessau—Principles of Bauhaus Production (1926)

[4]  Walter Gropius, Bauhaus Manifesto and Program (1919)

[5] Bernhard E. Bürdek, History, Theory and Practice of Product Design (2005)

[6]  Alex Walker , Simone SalaDial-a-Style #1: Bauhaus Design on Sitepoint. Link: https://www.sitepoint.com/nailing-detail-bauhaus-design/

[7] Maya Lekach, Know Your Design History: The Bauhaus Movement on 99designs. Link: https://99designs.com/blog/creative-inspiration/know-your-design-history-the-bauhaus-movement/