Nietzsche

Minh triết hân hoan – Quyển 1

1

Những kẻ rao giảng về mục đích của tồn tại

Dù cho tôi có nghĩ về con người một cách nhân từ hay một cách độc ác, tôi luôn thấy tất cả bọn họ đều bận lòng vì một nhiệm vụ duy nhất: làm điều tốt nhất để duy trì nòi giống giống. Nhiệm vụ này không xuất phát từ tình yêu thương đồng loại, mà nó chỉ đơn giản là một thứ bản năng thâm căn cố đế, một đặc tính cốt lõi của giống loài. Bằng cái nhìn thiển cận của chính mình, chúng ta dễ dàng phân loại những đồng loại quanh mình thành những kẻ hữu ích hoặc nguy hại, tốt hoặc xấu; nhưng khi xem xét một cách toàn diện hơn, kỹ lưỡng hơn về tất cả mọi người xung quanh, chúng ta bắt đầu hoài nghi sự phân loại này và từ bỏ nó. Bởi ngay cả kẻ nguy hại nhất cũng có thể là một kẻ hữu ích cho sự tồn tại của giống loài, bởi thông qua những tác động của mình, hắn ta tự nuôi dưỡng trong mình cũng như trong những người khác những bản năng mà mà nếu không có chúng giống loài sẽ trở nên nhu nhược và thoái hóa. Lòng căm ghét, cảm giác khoái trá trước bất hạnh của kẻ khác, cái tham ái của việc cưỡng đoạt hay thống trị, và bất cứ những tính cách nào khác bị cho là xấu xa đều góp phần mưu lợi cho sự duy trì nòi giống. Mặc dù những cách mưu lợi này hiển nhiên không màn đến cái giá đắt phải trả, sự lãng phí và nhìn chung thì chúng khá là ngu xuẩn, nhưng chúng vẫn chứng minh rằng chúng phục vụ cho sự tồn vong của giống loài.

Bạn tôi ơi, tôi đã không còn biết liệu bạn có thể sống theo một cách tự hoại chính nòi giống của mình không; nói cách khác, sống một cách “vô lý” và “tồi tệ”. Những thứ có thể hãm hại giống loài của chúng ta chừng như đã bị diệt vong từ ngàn năm về trước và ngày nay hầu như chẳng còn tồn tại. Hãy cứ theo đuổi những khát khao tốt đẹp nhất hay xấu xa nhất của chính mình, và trên hết hãy tự hủy hoại chính mình! Vì dù có chọn con đường nào thì bạn vẫn sẽ là một người ủng hộ, một ân nhân của giống loài – và cũng vì thế sẽ đón nhận vào mình cả những ca tụng, ngợi khen lẫn những gièm pha, phỉ báng. Nhưng sẽ không một ai có thể coi khinh bạn bởi bạn là một cá nhân đã tự thức nhận được những giới hạn của sự thật, được cái tình trạng khốn khổ vô bờ như chim như chó của mình. Từ trước đến nay chưa có bất cứ ai đủ thức nhận về sự thật để được cười thống khoái vào chính mình trước cái tình trạng nghiệt ngã ấy – kể cả những kẻ tài hoa nhất cũng chưa từng. Ngay cả tiếng vười cũng hàm chứa một tương lai. Ý tôi là, khi cái tuyên bố “giống loài là tất cả, cá nhân chẳng là gì” trở thành một phần của nhân loại, và sự giải phóng sau cùng lẫn sự thiếu tinh thần trách nhiệm này đều đạt được bởi mọi thế hệ con người, có thể tiếng cười khi ấy sẽ trở thành một liên minh với sự hiểu biết, có thể chỉ còn lại ở thế giới này “minh triết hân hoan”.

Nhưng lúc này, mọi thứ vẫn rất khác. Lúc này, vở hài kịch của tồn tại vẫn chưa trở thành nhận thức. Lúc này, chúng ta vẫn sống trong kỷ nguyên của bi kịch, kỷ nguyên của đạo đức và tôn giáo. Có nghĩa lý gì cái diện mạo khả biến và luôn mới mẻ của những kẻ khai sinh ra tôn giáo và đạo đức, của những kẻ khơi mào các cuộc chiến chống lại những định ước về đạo đức, của những kẻ rao giảng về sự ăn năn và những cuộc chiến tranh tôn giáo chứ? Có nghĩa lý gì những kẻ anh hùng trong cái vở đại bi kịch này? Luôn có những kẻ anh hùng, những nhân vật chính diện, và những thứ khác phục vụ cho sân khấu của những kẻ anh hùng này, thậm chí những thứ ấy đều nhìn thấy được và rất gần với chúng ta.

Hiển nhiên là những diễn viên bi kịch này cũng thúc đẩy sự thịnh vượng của giống loài, ngay cả khi họ tin rằng họ đang thực thi một sứ mệnh thần thánh nào đó và tưởng chính mình là sứ giả của thần linh. Bọn họ cũng duy trì sự sống của giống loài bằng những rao giảng về niềm tin vào sự đời. Bọn họ hô hào: “Cuộc đời là đáng sống và có ý nghĩa. Ý nghĩa tồn tại trong chính cuộc đời, đằng sau cuộc đời, bên dưới cuộc đời; do đó hãy cẩn trọng!”

Qua thời gian, bản năng duy trì nòi giống, thứ bình đẳng cả ở người cao quý lẫn kẻ bình dân, sản sinh ra những thứ luận lý và niềm say mê. Sau đó, nó, với mệnh lệnh quyền năng và đoàn tùy tùng hoành tráng của luận lý, làm chúng ta quên mất rằng về sâu bên trong nó chỉ là một thứ bản năng, động lực phi lý tính.  Cuộc sống này đáng sống BỞI VÌ…! Con người sẽ làm lợi cho chính mình và cho người khác BỞI VÌ…! Sẽ còn biết bao nhiêu thứ lý do được sản sinh ra tiếp tục sau chữ BỞI VÌ ở tương lai. Nhằm khiến cho những điều diễn ra trở nên cần thiết, tất yếu và có vẻ như có một mục đích nào đó, nhằm khiến loài người tiếp tục sinh sôi nảy nở như đang tuân thủ một mệnh lệnh tối cao nào đó, những giảng tòa về mục đích của tồn tại không ngừng ra đời và tạo lập những cơ chế, hình thức mới mẻ để đội lột cho cái bản chất cố hữu tầm thường của tồn tại. Thực tế, những kẻ rao giảng này muốn ngăn chúng ta làm một việc là cười nhạo chính sự tồn tại, cười nhạo chính mình – hay chính họ. Những sáng tạo và định ước của những kẻ rao giảng này có thể hoàn toàn ngu xuẩn và nồng nhiệt thái quá; họ có thể hiểu sai trầm trọng các cách vận hành của tự nhiên và phủ định các quy định của nó – và tất cả hệ thống đạo đức trước giờ đều thật ngớ ngẩn và phi tự nhiên mà loài người phải dựng lên để mang lại quyền lực cho giống loài của mình – và bất cứ khi nào kẻ anh hùng xuất hiện trên sân khấu đại bi kịch này, một thứ luận lý mới mẻ lại ra đời, một phản đề nữa của tiếng cười minh triết được khai sinh. Và tất cả chúng ta lại một lần nữa cảm thấy mọi thứ cũng đủ thú vị để tiếp diễn thêm một lúc nữa.

Có một điều chắc chắn là về lâu dài chính những kẻ rao giảng về mục đích tồn tại này cũng bị đánh bại bởi tiếng cười minh triết, luận lý và tự nhiên; cái bi kịch ngắn hạn rồi cũng sẽ khép màn, để cái sân khấu cuộc đời này rơi vào màn hài kịch vĩnh cửu của tồn tại; và “những tràng cười bất tận” – dẫn từ Aeschylus – cuối cùng cũng sẽ khuất phục cả tay diễn viên bi đại tài nhất. Và chính vì thế, nhu cầu về mục đích cuộc sống không ngừng tạo ra một diện mạo mới mẻ của những giảng tòa về nó, những giảng tòa nói rằng “cuộc sống này có một mục đích và ý nghĩa cụ thể”.

Dần dà, con người trở nên một giống loài đầy ảo tưởng nhất phải không ngừng lấp đầy cuộc đời mình bằng một lý do nào đó của tồn tại. Loài người không thể thịnh vượng nếu không có một chu trình thiết lập niềm tin vào cuộc sống. Và cứ thế sự cấm đoán tiếng cười minh triết không ngừng tiếp diễn. Và cứ thế luôn tồn tại một phi lý tối hậu trong những phương tiện và sự cần thiết của việc duy trì nòi giống.

Và cuối cùng thì, rồi cái quy luật mới mẻ của sự suy tàn này cũng sẽ đến với chúng ta thôi, hỡi người anh em đồng loại!

2

Lương tri

Có một trải nghiệm sống thường trực mà tôi luôn cố không muốn tin, nhưng nó rõ ràng như sờ chạm vào được: “đám đông” thiếu vắng lương tri. Tôi cảm thấy những người mưu cầu lương tri sẽ trở nên cô độc ngay cả khi anh ta sống trong những thành phố đông dân chật chội nhất. Người ta nhìn anh ta với ánh mắt kì lạ và tự động vận hành các thước đo của chính họ, phân loại nó là tốt và xấu. Chẳng ai mảy may xấu hổ khi anh ta nói với họ rằng cách đánh giá của họ là xem nhẹ vấn đề; cũng không ai cảm thấy bị xúc phạm; họ chỉ đơn giản là cười nhạo những hoài nghi của anh. “Đám đông” không hề cảm thấy chính mình đáng khinh bỉ khi chỉ đơn thuần tin vào một điều gì đó và sống với niềm tin ấy mà không hề tự cân nhắc đến hậu quả hay lợi hại – và sau đó cũng không mảy may tự vấn cách sống lẫn niềm tin của mình. Ngay cả người khả kính và quý phái nhất vẫn thuộc vào “đám đông”. Với riêng tôi, một người chỉ đắc thụ lòng từ tâm, sự cao khiết và tài năng thực sự khi anh ta biết vượt qua những xúc cảm nhu nhược trong đức tin và trong phán xét của chính mình, khi anh ta không ngừng tự vấn những tham ái và muộn phiền sâu kín nhất.

Với những nguyên do cụ thể, tôi không ưa một số kẻ gián tiếp thậm xưng là minh chứng hoặc là người cổ xúy cho một niềm tin đạo đức tuyệt đối nào đó. (Và họ cũng tương tự cảm nhận như thế về tôi). Nhưng nếu đứng giữa những trạng thái lưỡng nan của tinh thần, những bất định mênh mông và cả những phi lý to lớn của tồn tại mà không hề nghi vấn, không hề rung động với những khao khát và hân hoan của nghi vấn, thậm chí không có lấy một sự khó chịu với những kẻ đưa ra nghi vấn, hay thấy được sự trào phúng trong nghi vấn của anh ta – đó chẳng phải là một điều đáng khinh miệt hay sao?

3

Tầm thường và cao quý

(Updating…)

Advertisements
Standard
Văn

[Hồi quy] Thịt sống – Phần 1

 

 

Gần khuôn viên trường Đại học Saint-Exupéry có một đồng cỏ và cắt ngang nó là một con đường. Tuy con đường ấy đủ rộng cho hai làn xe hơi và cũng khá thông thoáng, chẳng hiểu sao nơi đây thường xảy ra tai nạn giao thông chết người. Kì lạ là, những vụ tai nạn này đều là do các tài xế đâm vào gốc cây hai bên đường. Một số người cho là do tài xế ngủ quên hoặc do con đường này khá tối khi về chiều do cây ven đường quá to che hết ánh sáng, lại không có đèn đường. Các giả thuyết ấy chừng như chưa bao giờ đủ thuyết phục.

Lúc này cũng đang là chạng vạng. Từ xa cũng có thể trông thấy hàng cây hai bên đường in lên nền trời xám những vệt đen nhiều hình thù kì dị. Đứng gió. Không gian tĩnh lặng. Và từ xa xăm vọng lại, to dần lên tiếng động cơ xe ô tô. Chiếc xe lao đi khá nhanh. Có lẽ người ta cũng muốn đi cho nhanh qua cái đoạn đường vắng đầy tai tiếng này. Âm thanh động cơ thật êm mượt.

Nhưng thình lình, từ đâu đó trong bụi cây ven đường đâm bổ ra bóng đen. Ngay lập tức, cái âm thanh êm mượt ấy bị thay bằng một tiếng “kééééét” chói tai, rồi sau đó là tiếng “Rầầầầầm” nhức óc. Chiếc xe bị bóng đen kia làm cho kinh ngạc, phải lái chệch đi để tránh, và cố ghì thắng lại. Nhưng lực quán tính quá lớn đã khiến nó đâm thẳng vào một gốc cây to. Không một ai bước ra khỏi xe. Không gian lúc này chìm vào một sự im lặng chết chóc. Và từ giữa đường, bóng đen ấy bước chậm rãi về phía chiếc xe bị tai nạn, và rướn cái đầu của nó vào trong ô cửa kính xe như đang tìm kiếm một thứ gì đó.

Trời lúc này đã tắt hẳn ánh sáng, và cái khung cảnh khốc liệt quái dị vừa rồi cũng chìm vào màn đêm.

***

“Vui lòng cho tôi một khoai tây nghiền!”

Cô gái nhỏ rụt rè nói với người phụ nữ ở quầy thức ăn của một nhà hàng nhỏ ven đường. Người phụ nữ lạnh lùng múc một thìa lớn khoai và thả vào cái đĩa trên tay cô gái một cách mạnh bạo.

“Không thịt thà gì à?”, bà ta hỏi không kèm theo một chút biểu cảm nào.

“À không không. Cảm ơn!”.

Cô gái mang đĩa đồ ăn của mình ra một cái bàn nơi có một người đàn ông và một người phụ nữ trung niên đang dùng bữa. Chừng như họ là một gia đình. Sau khi đưa vào mồm vài muỗng khoai, cô gái cảm thấy bất thường trong miệng.

“Justine, con sao vậy? Nhổ nó ra đi”. Người phụ nữ trung niên hối thúc.

Cô gái, tên Justine, nhổ ngụm khoai tây nghiền trong miệng ra đĩa ăn của mình. Lẩn trong mớ bầy nhầy thức ăn lẫn nước bọt ấy là một viên xúc xích.

“Mẹ kiếp! Con cắn rồi à?”.

“Chưa.”

“Con chắc chứ?”

“Thật mà, mẹ nhìn xem!”

“Đám này điên hết rồi!”

Bà mẹ bực tức giằng đĩa ăn của con gái mình toan đi vào quầy thức ăn khiếu nại.

“Mẹ không cần đâu, bỏ qua đi!”

“Con đùa à, lỡ con bị dị ứng thì sao?”. Bà mẹ vẫn kiên quyết làm lớn chuyện này.

Ông bố đẩy đĩa thức ăn của mình về phía con gái, nhẹ nhàng hỏi:

“Con muốn ăn của bố không?”

“Không ạ!”

Từ chỗ hai cha con, vẫn nghe được tiếng cằn nhằn của người mẹ ở quầy thức ăn: “… phần của con gái tôi có thịt. Thật không chấp nhận được, tôi đã bảo là đừng cho thịt vào mà. Chúng tôi là người ăn chay…”

Cả hai bố con chỉ biết ngồi nhìn nhau. Thật không phải là một khởi đầu dễ chịu cho một chuyến đi dài. Hôm nay là ngày đầu tiên cô gái nhỏ đến trường đại học.

Ở băng ghế sau xe ô tô, Justine nhìn mãi ra ô cửa kính. Sự hồi hộp căng thẳng hiện rõ trong cử chỉ tay. Con chó Béc-giê ngồi ở bên cạnh thình lình liếm má cô, cô bực bội đẩy nó ra.

“Nhìn xem, thật tồi tàn, anh thấy vậy không? – người mẹ ngồi ở ghế trước, quay sang bảo người bố đang lái xe khi chiếc xe của họ vừa đi ngang qua một tòa nhà lớn trông khá cũ kỹ.

Cô gái nhảy qua phía ô cửa kính bên trái để nhìn rõ tòa nhà hơn.

“Đó đấy ạ?” – Cô hỏi, muốn xác nhận liệu đó có phải là tòa nhà của khoa Thú Y Saint-Exupéry, nơi cả cha lẫn mẹ cô từng học, và nay là cô và chị gái cô, Alex, sẽ học hay không.

“Không, đó là khoa Y. Bên trái là bệnh viện. Cạnh bệnh viện là nhà xác và cửa hàng tạp hóa.”, Mẹ cô giải đáp.

“Ôi chắc con sẽ lạc mất thôi.”, Justine than vãn.

Khi đến khoảng sân rộng trong khuôn viên trường đại học, họ đỗ xe lại. Ông bố đốt một điếu thuốc hút. Còn Justine đứng tựa vào hông xe ô tô nói chuyện với mẹ mình.

“Đã có điện thoại chưa?”.

“Rồi ạ!”

“Gọi cho chị con đi, con bé chắc sẽ trả lời thôi.”

Cô bé bấm máy gọi nhưng không ai bắt máy.

Người bố ném điếu thuốc xuống bàn chân, dụi tắt nó bằng gót giầy và quay về phía hai mẹ con.

“Anh đi đây. Alex chẳng tới đâu.”, ông nói trong khi mở cửa xe bước vào.

“Anh điên à? Chúng ta đâu thể để Juju đứng đây một mình? Con bé bảo sẽ đón em nó.”

“Đợi chút đi mẹ. Chị ấy sẽ tới thôi.”, Justine muốn tỏ cho mẹ thấy rằng cô đã lớn rồi và không muốn mẹ làm quá lên mọi thứ.

“Con là cô gái thông minh và mạnh mẽ.” Người bố ra hiệu cho cô tiến sát đến mặt kính để trao nụ hôn tạm biệt. “Cứ tự lập. Hãy thể hiện cho mọi người thấy nhé!”

“Mẹ yêu con, con gái!” Người mẹ cũng đến ôm hôn cô. “Nhớ gọi cho mẹ nhé!”

“Vâng. Con cũng yêu mẹ, mẹ yêu.”, cô đáp lại. Giọng nói hơi méo đi vì cái ôm siết của bà mẹ.

Rồi cha mẹ Justine lên xe đi khuất. Cô đợi thêm một chút nữa rồi quyết định lê va-li về ký túc xá.

***

Giữa đêm. Những âm thanh náo loạn ngoài hành lang ký túc khiến cô tỉnh giấc. Tiếng nhạc, tiếng người la hét, cười đùa, tiếng đập phá… chúng từ tầng dưới rồi dần dần lan sang tầng của cô, lớn dần lên. Thình lình, cửa phòng ngủ bật tung, một người đàn ông xông vào.

“Bọn nó làm cái quái gì giờ này thế!”, gã ta vừa nói ngay không cần chào hỏi. Trên tay, gã cầm một cây gậy trượt tuyết.

“Anh là ai?”, Justine kinh ngạc vì sự xuất hiện của một gã đàn ông lạ mặt trong phòng ngủ của mình.

“Bạn cùng phòng với cô. Tôi đến hơi muộn quá. Dậy đi!”

“Anh không phải con gái?”

“Dĩ nhiên rồi!”

“Tôi yêu cầu con gái cơ mà?”

“Và họ gửi tới một chàng đồng tính. Ai cũng bị vậy thôi.”

“Này cầm lấy”, anh ta đưa cây gậy trượt tuyết cho Justine và bảo cô theo anh ra ngoài phòng khách.

“Chuyện gì đang diễn ra vậy hả?”

Gã trai ấy chưa kịp trả lời thì cửa phòng của họ bị phá tung bởi một đám đông mang mặt nạ và áo khoác trùm kín đầu. Bọn họ xông vào và xới tung phòng khách, ném các đồ đạc qua cửa sổ xuống dưới đất. Gã chung phòng với cô ra sức cản lại nhưng không được. Một người trong bọn ma cô ấy đẩy cô ra ngoài hành lang, và cô thấy mình đứng chung với một đống những đứa sinh viên khác cũng mang đồ ngủ và ngơ ngác không biết chuyện gì xảy ra.

“Ê thằng kia, mày đi đâu đấy?” Một gã trong băng đảng áo trùm đầu ấy chỉ tay về phía một tên thanh niên đang muốn tách ra khỏi đám đông ngơ ngác.

“Đi về giường.”

“Giường sao? Ở đâu? Giường của mày đã bị ném xuống dưới tầng trệt rồi nhóc. Xem này chúng bây, thằng này muốn bỏ đi. Này, mày vào đại học này để làm hài lòng bố mẹ mày thôi phải không?” Gã trùm đầu sấn sổ vào mặt tên thanh niên đó.

“Tôi… tôi tưởng chuyện này xong rồi?”, tên thanh niên rụt rè đáp.

“Xong à, chưa đâu. Mày sẽ biết khi nào xong thôi nhóc! Đứng vào vạch. Vào vạch đi.” Gã trùm đầu đẩy tên thanh niên vào hàng rồi quay sang nói với cả đám sinh viên đang đứng nép vào tường như những con cừu trước giờ bị làm thịt. “Và giờ chúng ta hướng tới đâu đây, bọn bây có biết không? Tới đâu đây? Tới TỰ DOOOOO!”. Sau khi gã ngân dài chữ cuối, cả băng đảng trùm đầu hú hét theo để trợ thêm thanh thế.

Gã bạn chung phòng của Justine cuối cùng cũng bị bọn trùm đầu đẩy vào hàng, miệng vẫn đang văng tục.

“Nhanh lên nào, các tân binh.” – Bọn trùm đầu đồng thanh.

“Nhanh nào, lê cái mông đi. Sếp lớn đang đợi đấy!”

“Đi nào, nhanh lên!”

Bọn chúng không ngừng thúc ép. Và toàn thể lũ sinh viên đang ngơ ngác ấy bị đẩy xuống tầng dưới bằng thang bộ, rồi bị chia ra hai ngả để vào hai thang máy. Justine cùng gã bạn chung phòng cùng vào một thang máy. Thang máy đi xuống dưới tầng hầm. Lúc cửa thang máy mở ra, cả bọn bị bắt phải bò sát dưới đất bằng trong một tầng hầm tối om.

“Này, chỉ là một trò chơi thôi. Cô nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra?” Gã bạn chung phòng quay sang trấn an. “Tôi là Adrien.”

“Tôi là Justine.”, cô bắt đầu có thiện cảm với anh chàng này.

Thình lình, một cánh cửa mở ra, ánh sáng cùng tiếng nhạc xập xình lan vào tầng hầm tối om ấy. Một vài gã trùm đầu ra hiệu tất cả sinh viên đứng dậy và bước vào vùng ngập tràn ánh sáng cùng âm thanh đó. “Chào mừng đến với tự do!”

Và đó thật sự là một căn phòng của tự do, hay chí ít là nơi mà các ranh giới trước đây của một đứa bình thường mới vào đại học bị phá vỡ. Rất đông sinh viên tụ tập trong căn phòng đó, đông tới mức rất khó để di chuyển mà không cọ xát da thịt với một ai đó. Nhiều người trong số họ – cả con trai lẫn con gái – để ngực trần mà không hề ngại ngùng hay xấu hổ. Justine cảm thấy mình bước vào một thế giới đầy thác loạn với tiếng nhạc, mùi rượu, mùi thuốc lá và ánh sáng mờ ảo như vũ trường. Bọn họ ôm hôn nhau, con trai với con gái, con gái với con gái, con trai với con trai… Mọi đường biên phái tính đều nhòa đi trong cái ánh sáng mờ ảo của căn phòng đó. Và muôn kiểu hành động kích dục đều đang diễn ra trước mắt: nút lưỡi, sờ soạng… Justine thấy Adrien bắt đầu hôn một gã trai nào đó. Một luồng hơi nước từ một cái máy phun sương nào đó xả ra không gian kín, khiến tất cả đều trở nên ẩm ướt. Quần áo dính vào da thịt, và da thịt thì trở nên trơn trượt. Cô thấy vài đứa con gái đã tuột hẳn quần mình ra để lộ cặp mông tròn.

Bị xô đẩy, Justine thấy chị mình đang đứng lắc hông với một loạt những người khác ở một cái sân khấu thấp, dưới vùng ánh sáng trắng.

“Alex” – cô gọi to, nhưng vô hiệu nên tới gần hơn – “Alex”, cô đập chân chị mình.

Alex thấy em gái, nhảy xuống khỏi sân khấu và ôm choàng Justine.

“Chị phê quá”, mùi rượu phả ra trong hơi thở của Alex.

“Chị đã ở đâu vậy? Bố mẹ sẽ giết chị.”

“Thật tuyệt khi em ở đây. Em sẽ yêu nơi này. Năm đầu luôn tuyệt nhất. Chúng ta sẽ gặp từng người mới. Cứ tự nhiên như ở nhà. Hình như dây quần chị bị tuột rồi à?”

“Không phải đâu”, Justine trả lời sau khi đã cuối xuống kiểm tra.

“Mẹ thương em nhiều hơn. Không có chị đếch sao đâu.”, Alex nắm vai Justine tách ra khỏi trạng thái ôm siết.

“Ý chị là sao?”

Alex ợ to và cảm giác như đang bị trào ngược dạ dày.

“Ôi đệch mợ. Chị cần chút không khí trong lành.”

“Quicky!” Alex quay sang gọi một con chó béc-giê.

“Ôi, lâu rồi không gặp mày.” Justine vui mừng đến vuốt ve nó. Nó là em trai của con chó trên xe, hiện đang ở nhà với cha mẹ Justine.

Justine theo Alex và con Quicky ra khỏi căn phòng. Lúc rời khỏi đó, Justine để ý ở phía sân khấu, có một con cừu nhỏ bị treo cổ lên bằng một sợi dây điện. Dường như đó là một phần của một nghi thức nào đó. Máu rỉ ra từ cổ nó, và chân trước của nó còn co giật nhẹ.

Justine theo Alex đến một căn phòng khác. Nơi đây tối om, không có một chút ánh sáng nào.

“Đèn đâu rồi?”, Justine mò mẫm tìm kiếm điện thoại để dùng ánh sáng màn hình điện thoại rọi đường.

“Đừng, ở đây không được bật.”

“Chúng ta đang ở đâu?” Justine hỏi, nhưng không nghe đáp trả, chỉ nghe tiếng bước chân Alex đi ra xa khỏi mình. “Alex”. Đáp lại chỉ là những âm thanh của kim loại thủy tinh chạm vào nhau. “Alex, chúng ta đang ở đâu vậy?”

“Đệch, đụng vào mắt em rồi.” Justine đụng chúng một vật thể gì đó như một cái bình chứa bằng thủy tinh.

Đột ngột ánh đèn pin sáng lên, Justine la lên kinh hãi vì trước mắt cô là một cái bình chứa hai con chó Chihuahua song sinh dính liền nhau. Alex cười khoái trí. Chính cô cố tình để đèn tắt và bật đèn pin vài giây để hù dọa Justine. Chỉ vài giây đó cũng đủ để Justine biết căn phòng mà hai chị em đang ở là nơi chứa các tiêu bản cơ thể biến dị của những con vật. Ánh đèn tiếp tục chớp tắt, và Justine thi thoảng thấy mình đang đứng cạnh tiêu bản của một con lợn hai đầu hoặc một con cừu nhiều chân.

“Alex thôi đi.” Justine cằn nhằn, bắt đầu khó chịu nhiều hơn là sợ hãi.

“Đến đây.” Alex chừng như đã chán trò hù dọa, kéo Justine đến một bờ tường. Ánh đèn pin rọi vào những bức ảnh đen trắng treo trên tường. Đó là những bức ảnh chụp tập thể học sinh của các niên khóa trước đây ở khoa Thú Y Đại học Saint-Exupéry.

“Sao có vài người trong ảnh bị cắt đầu ra thế này?”, Justine hỏi.

“Đám phản bội ấy mà. Bọn nó từ chối lễ kết nạp.”, Alex đáp hờ hững.

“Còn đây nữa, đến đây nhìn xem. Nhận ra ai đó không?”, Alex gọi Justine lại chỗ có một bức ảnh. Justine chạy đến nhìn.

“Không đời nào. Họ không làm trò đó đâu.” Justine thấy bố mẹ mình, cô không thể tưởng tượng được bố mẹ mình ngày trước cũng làm đủ trò như mình hôm nay.

“Đó là truyền thống, em cũng sẽ phải vậy thôi.”

“Thích chứ?”

“Không đến nỗi tệ. Đừng có nhút nhát quá, dẫu làm vậy thì mẹ sẽ vui hơn.” Cả hai bật cười.

“Chị lạnh à?” – Justine để ý thấy hơi thở Alex có khói và tay của Alex run lên.

“Ừ, chị quay lại quầy một chút. Trông chừng Quicky nhé.”

“Em buồn ngủ quá. Em muốn đi ngủ.”

“Không đời nào.”

“Tại sao?”

“Tân binh không được đi ngủ trước bọn chị.”

Justine nghĩ mình chỉ cần bốn năm đại học sẽ trôi nhanh thôi, nhưng dường như nó sẽ khá là mệt mỏi.

“Nhanh lên nhé!”

Chỉ vài giây sau khi Alex rời khỏi phòng, Justine đã thầm hối hận vì không bảo chị gái đưa mình cái đèn pin. Cô đành ngồi xuống ôm Quicky, tuy vậy, không khỏi có một cảm giác thường trực là có ai đó ngoài mình ở trong căn phòng này. Cô cũng bắt đầu thấy lạnh hơn.

Standard
Văn

[Nguyễn] Cái cà vát đen

Tặng Đoàn Phú Tứ

Từ bỏ cái áo the thâm quốc phục, đổi sang ăn mặc tây, trong phục sức mới, Nguyễn khổ bận nhất về chiếc cà vát tết múi ở cổ! Tiền sắm cà vát, chàng quăng ra kể cũng đã nhiều lắm. Mua cứ hàng hộp. Xa xỉ. Nghĩa là không thiếu, không rách, không cũ nhàu.

Cổ Nguyễn lộ hầu đã hứng chịu lấy cái buộc trói của bao nhiêu là dải lụa dệt đủ hình bài trí và sáng ánh đủ các màu sắc, hoặc là hòa hợp hoặc là tương phản. Đã có bao nhiêu thân cà vát đặt giá ăn ở với cổ Nguyễn. Đã có bao nhiêu đời cà vát lìa rời khỏi tủ pha lê lũ lái xa xỉ phẩm để đến gá nghĩa với da thịt một cái cổ lúc nào cũng thèm đến sự tô điểm của tơ nõn, của màu đẹp.

Nhưng những dải lụa diêm dúa ấy cũng chỉ sống đủ cái đời của một dải lụa. Và đâu có phải là chúng thiếu cái đức bền vững của vật tốt.

Thật tình ra, những cà vát của Nguyễn đều là thứ dệt bằng hàng tốt. Vò không nát, tuốt mạnh không đứt, rút không dào, sợi không giãn thớ. Nguyễn còn muốn gì nữa.

° ° °

Nguyễn vốn có một lối sống hỗn độn. Trong lòng chàng và thứ nhất là trên đời chàng, luôn luôn có mưa gió và bão dông. Bọn cà vát lụa sinh ra là để sống một cuộc đời yên nghỉ ấm rợp của mỹ nhân, vì thế cũng phải theo luôn Nguyễn mà đi sâu vào cái mưa gió nó cứ quyện lấy tháng ngày của Nguyễn, chỉ biết có xê dịch và xa lìa.

Hỡi thương ôi những dải lụa màu! Cứ theo Nguyễn mà lăn xả vào cái thất thường ghê gớm của thời tiết – với sương muối gió nồm, nắng chói lòa và trùng của ẩm mốc – thì nhan sắc nào mà chẳng sớm tàn. Cái gì quá đẹp thì lại chóng tàn. Trong cái phút giây chớp mắt của mùa lên đường, cánh bích đào ngày này năm này đã có đủ cái nhợt phai của đào năm trước.

Ấy thế mà đám cà vát tơ kia đã không đến nỗi phụ Nguyễn, người nhân tình bất diệt của lụa màu. Tất cả màu sắc luôn luôn khôi ngô trong trẻo trên các dải lụa dệt lòng thòng trong tủ áo Nguyễn chúng như muốn trêu nhạo cả thời gian – cái thời gian tuyệt đối mỗi lướt trên mọi vật tươi sáng là chỉ muốn mọi vật trở nên cũ xấu và hóa theo cái bản sắc vàng bệnh của mình.

Những dải lụa yêu của Nguyễn vẫn tươi bóng không chịu úa rầu xuống mặt.

Ấy thế mà Nguyễn đã phụ tình. Ngày nay chàng đã quên, chàng đã ghẻ lạnh với lũ lụa màu. Lại còn giam cầm. Trong cái tủ áo kia, những thân tơ óng ả ấy đã là những phận tù của không biết đến bao giờ. Bao nhiêu dây cà vát rủ rù rù trong cái đen ngòm của tủ đứng đã khép kín hai cánh. Ở đấy, lạnh lẽo vô cùng và tối om om vô cùng. Tơ nõn dệt màu ấy sinh ra là để được phô phang, trình bày cái diễm lệ của mình ra giữa cái sáng thơm ngon của Tự Nhiên hay giữa cái sáng ma túy quyến rũ của quán rượu gác ca có tiếng cười chen tiếng xô động của thủy tinh và sứ mỗi khi rớt xuống thềm là lại làm xao xuyến cả một bầu khí đượm phấn ngát nước huê nồng. Lũ tơ nõn dệt màu ấy giờ đã phải đau khổ âm thầm với Nguyễn đã ỷ mình nhiều tiền, lấy về để rồi mà ghẻ lạnh và hạ ngục. Chiếc tủ áo là một cái đề lao xinh xinh, là một thửa lãnh cung và bấy nhiêu cà vát là tất cả số phận của những cung nhân bị bỏ rơi – ngày đêm thầm trộm nhớ đến một khuôn mặt rồng ở xa trên những nơi chín bệ. Tiếng đàn ca thưa nhặt não nùng của một đô thành hoa lệ, nhiều đêm khô nỏ và thuận chiều gió về đã lẻn qua kẽ tủ gương mài cạnh và dội vào nơi lãnh cung này của đám cà vát bị thất sủng, bị rẻ rúng, rẻ rúng cho đến tàn cái kiếp một sợi tơ tằm nhuộm thắm.

Ở những đâu đâu xa xôi đùa vui là thế mà trong tủ gương này chỉ có lạnh vắng. Đùn đùn hơi ẩm. Dằng dặc mùi mốc. Giây lát một con gián bị luồng long não băng phiến đuổi theo sột soạt chạy, quấy nhầu cái tịch liêu của lãnh cung. Có những con nhậy con dài đuôi phụ họa vào. Rồi pha thêm vào những mùi thuốc sát trùng ấy là cái mùi phân gián và chuột chù nhiều khi rất tanh rất đặc. Đã tội nghiệp thay cho cái đời của những màu sắc bị đầy ải vào đen tối và tẩm mình trong hôi mửa.

Khi không, Nguyễn đã trở nên một bạo chúa trong lịch sử loài tơ quấn cổ. Người ta héo dần trong oán tiếc ở các thâm viện bạo chúa của sử xanh như thế nào thì ở đây trong cái tủ gương sáng chói chỉ có bề mặt ngoài này thôi, bọn cà vát cũng giận chờ khổ đợi như thế. Cái tủ gương đứng có khi hằng mấy tuần, Nguyễn không mở đến. Có những buổi chiều mà một giời ráng vàng còn cố níu lấy hoàng hôn chưa cho trụt xuống vội, tủ gương lách cách tiếng thìa khóa đâm quay trong họng ổ khóa đã gỉ.

Đám cà vát tỉnh giấc và mừng và hy vọng như lũ tội nhân cấm cố đợi phút được đưa từ buồng tối ra chỗ ánh sáng muôn năm. Luồng gió lạnh tạt từ ngoài vào làm động đậy mấy dây cà vát cọ mình vào nhau. Lũ dải tơ ngả ngốn lả lơi, xê xích lại. Lũ phi tần nghìn xưa gần kề nhau trong thâm viện rồi xì xào tâm sự với nhau xem hôm nay dê của Thánh Thượng dừng xe trước bó lá dâu phòng nào thì cũng hồi hộp đến nhường ấy thôi.

Bấy nhiêu dải tơ dệt màu, mỗi cái đẹp một vẻ. Cái thì kẻ ô vuông xanh màu thạch xương bồ chen vào những gạch chéo màu lựu ngày nắng tháng năm – hình như đây là thứ cà vát dùng vào buổi lữ hành. Cái thì nhờ nhờ màu hạt trai điểm những hình quả đậu tươi sáng. Cái thì trong vắt sắc da giời lác đác ít ngôi sao màu cá vàng. Cái thì biêng biếc một màu âm thầm của nước biển chiều trên ấy chạy ít đường sóng lệch, nhăn nheo như mình lá hổ thiệt. Có thứ lại đẹp một lối chắc chắn khiêm tốn với màu huyết dụ toàn thể hoặc tím than một sắc. Và chao ôi, từ ngày thời thượng phục sức bước vào một kỷ nguyên mới, người ta đã dệt được bao nhiêu là thứ hình cầm thú, cây cỏ và hoa lá, rất xinh và cũng rất quái đản để làm nền cho một dải cà vát. Nói ra cho hết, sao cho tới chỗ cùng được .

Nghe tủ động tiếng khóa mở, chiếc cà vát nào cũng tự cho mình là đẹp, là đủ điều kiện đẹp để hôm nay rời khỏi lãnh cung ra mà vòng ôm lấy cổ người yêu đã có một phút nghĩ lại.

Nguyễn mở rộng hai cánh tủ, điểm hết mặt bấy nhiêu dải tơ. Hai mắt Nguyễn rầu rầu.

Đám cà vát óng ả bị tay Nguyễn quơ phải, giạt cả về một phía, nép sát mình vào nhau, tỏ rõ cái yếu thơ rất khiêu khích của một giống đẹp sinh ra để mà làm nũng và biết lấy ngay cái sở đoản kiều nhược của mình ra mà làm một thứ khí giới lợi hại. Có mấy chiếc cà vát khỏe quá, tươi thắm quá lại đứng riêng ra một chỗ nơi đầu dây, như chiều ta đây không muốn lẫn vào với đám chị em tầm thường, đã chẳng dám tách riêng ra mà can đảm đòi lại quyền sống ngoài ánh sáng.

Bữa nay tủ cà vát nhộn nhịp.

Sợi dây cà vát rung rinh rồi mấy mươi dải cà vát cũng đều rung rinh theo trong bóng tối. Một luồng ước vọng thấp thỏm vừa chạy qua tâm linh đám mụn tơ. Chưa cái cà vát nào biết rõ trước là “chị” nào sẽ được ra khỏi chỗ tối tăm này, dầu là chỉ có một buổi. Quyền lựa lọc ấy là quyền của đấng chủ nhân – đấng chủ nhân thì chỉ có một mà họ, những lụa đẹp, thì là rất đông. Lũ cà vát đợi, phút dài như năm.

Nguyễn rầu rầu gởi mắt vào lòng tủ mà không để tâm đến dải cà vát nào cả. Chàng uể oải tháo múi một dải cà vát đeo ở cổ không biết từ bao giờ, rồi vứt nó xuống cạnh đám cà vát cũ kia. “Ta lại chôn vào đây một ngày vui nữa vừa đi qua”. Nguyễn lẩm bẩm, đóng ập cửa tủ đang kêu một tiếng rầm.

Thì ra đám cà vát hy vọng và thất vọng kia lại đang thêm được một số phận bạn bầu nữa, bị vứt vào đấy để làm lạnh thêm không khí tủ đã thừa mùi thê lương. Nơi lãnh cung, Thánh Thượng lại vừa thêm được một nàng phi thất sủng.

Khốn nạn, đã không dùng đến đám cà vát này nữa, đã không muốn thắt cà vát lộng lẫy nữa thì Nguyễn nên đem mà nhường lại cho các bạn thân, hoặc tiện và thấp xoàng hơn nữa, thì nên đem cả cái lô hàng tốt ấy gửi vào nhà hàng tầm tầm nào cho họ bán đấu giá đi như cái lối bán đồ vặt của những vị Tây phải hai năm mươi ở xứ này. Không muốn cho “người ta” ở với mình nữa thì nên phóng thích người ta ra, thải cho về, để cho người ta đi tìm những bộ cổ xinh tròn khác mà làm bạn mà gởi thân.

(Cuộc đời chung quanh đâu phải là không còn có cái cổ nào nữa. Người đao phủ vẫn còn thèm sống kia mà). Giữ làm gì người ta trong một cái tủ lạnh hơi người vắng mùi hương ấm để cho nó mai một những màu sắc chóng vánh nhất thời ấy đi. Đã phụ tình nhau thì nên buông tha nhau ra, chẳng có hơn sao.

Chiều nay ngồi tháo giầy bên tủ gương mài cạnh, cổ sơ mi để hở, Nguyễn lắng lòng mình. À, cái đời tiềm tàng của riêng mỗi người, Nguyễn chán lắm rồi, không thể chán được hơn thế này nữa. Chàng đã mất hết cả tin tưởng trong cái lối sống riêng biệt mà trước kia chàng cho là màu nhiệm kỳ thú lắm.

Ra cái hạnh phúc con người ta không thể đặt lên Truy Hoan được. Khi mà người ta thừa thãi sức khỏe và tiền bạc, và lại được hai đấng cha mẹ thừa bát ăn để cho mình ăn học để có lấy một quan niệm đại khái về sự sống theo chiều mặt, thì ai mà lại chẳng vui và đùa hát và nói to cho nó qua ngày đoạn tháng. Đã từ một ngày xa thẳm nào, Nguyễn tưởng cứ ướm mãi được nụ cười như thế trong ca hát và lúc nào cũng nắn mãi được một múi cà vát xinh tươi trước cúc áo cổ sơ mi. Nhưng có một buổi chiều không gian nặng trĩu nhựa sống thuần túy, Nguyễn đã bị không khí mới sai bảo đắc lực và hiểu cuộc đời theo một chiều sâu để rồi lại đem mình lắng mình vào một đời sống bên trong. Thì Nguyễn mới nhận ra rằng một cốc rượu máu đào nồng men cũng như một món tóc thề, cũng như một miếng dê béo, đều đã không nói cho chúng nghe thấy một điều gì hết. Hay là tất cả bấy nhiêu chỉ có bảo cho chàng hiểu rằng tất cả bấy nhiêu là vô vị, là nhạt nhẽo, là thối nát và chàng không tiếc gì mà thay bỏ hết.

Cái lô cà vát kia là dấu vết của một thời đã được coi là đứt đoạn hẳn. Và để đánh dấu lại cái bóng quang âm ấy của một thời đã đi qua, Nguyễn đã cất hết bấy nhiêu cà vát đẹp vào tủ kín. Rồi để lúc nào buồn lại thử mở ra xem. Trong cái tủ áo cánh gụ chặt khóa, nhiều kỷ niệm lắm. Nào là những buổi chiều lộng lẫy và hí hửng bên một vòng đua ngựa. Nào là những buổi sớm ngày chúa nhật đàn đúm đi rong phố Tây sắm những đồ vật không cần dùng gì cho sự sống hằng ngày, nào là những đêm…

Ôi! Mỗi dải lụa tơ dệt màu là một ngày náo động được hồi tưởng đến. Ví chẳng khác một cuốn an bom lúc được giở lại từng tờ một.

Bây giờ Nguyễn đi tìm những thức ăn mới và đã biết trốn xa những nơi hội họp cũ. Nguyễn đã muốn thay thực đơn cho lòng mình.

Và Nguyễn đã thay luôn cả cái bề ngoài của mình.

Những cái gì là lộng lẫy là hào nhoáng, chàng thải hết.

Và giờ, trước ngực nơi cổ, người ta chỉ thấy chàng tết có một nút cà vát đen kịt. Có người trưởng tộc ngứa mồm, biết trong họ nhà – về chi Nguyễn – không có ai nằm xuống hồi gần đây, hỏi nghịch chàng là để trở ai thế, thì Nguyễn trả lời rất gọn rằng: “Thưa cụ, cháu đang để tang cháu đấy ạ”.

Standard
Văn

[P.H.N] Sapa

1.

Căn phòng dài, trần thấp, có ba cửa sổ. Các bức tường ốp ván ngả xanh. Buổi tối, sau một ngày đi bộ khắp các con đường quanh núi, Vinh hoàn toàn dễ chịu khi ngồi sâu trong cái ghế vải mềm, cạnh một ô cửa hé mở. Bóng tối mênh mông. Những con chim tựa vô số tia chớp vụt qua các vòm cây im lìm, như biểu tượng pha trộn giữa thanh bình và hoảng loạn. Anh chăm chú đọc quyển sách khổ nhoe dành cho người du lịch thì cửa mở vội. Aki từ nhà tắm nước nóng trở về, mang theo làn hơi ướt át và thơm dịu của lá cây ôn đới. Cô mở TV, chỉnh sang kênh chiếu phim kinh điển. Từ màn hình, ánh sáng xanh rực đột nhiên tràn ngập căn phòng, đến mức Vinh phải nhắm nghiền mắt. Châm một điếu thuốc, Aki thay áo ngủ và chăm chú xem phim.

Đường phố dài nhìn từ trên cao. Người đàn ông trẻ thong thả giấu khẩu súng dưới áo khoác. Một cô gái đứng sững trước tấm áp-phích sặc sỡ, hai tay tì vào đầu gối. Ánh sáng xanh nhuộm vầng trán, cái mũi và mái tóc cô gái rạng ngời nhưng lại khiến đôi mắt người đàn ông trở nên nguy hiểm. Có lẽ khi thực hiện góc quay đặc biệt này, đạo diễn đã nghĩ rất lâu về sự tất bật của đời người.

Vinh đánh dấu trang sách, rời khỏi cái ghế êm ái. “Cứ ngủ trước, Aki. Anh đi dạo chừng nửa tiếng!” – Anh lấy áo khoác. Người vợ trẻ lơ đãng gật đầu. Vinh đi dọc hành lang khu nhà nghỉ trên núi. Không một bóng người. Yên tĩnh thật sự nếu không kể bản nhạc phim thảng khi vọng ra, nghe khá căng thẳng.

Dãy nhà dịch vụ chếch phía dưới thung lũng, mái lợp rạ trong mục đích khiêm nhường của thiết kế. Một con chó chân cao nằm dài dưới ngọn đèn vàng ấm sực, hé mắt nhìn vị khách mới vào. Người trông coi phòng dịch vụ internet vội vã mở rộng cửa, cúi chào, nụ cười ngưng đọng. Máy lập tức nối mạng. Một vài tin tức quan trọng về hoạt động của các phòng tranh của Vinh trong thời gian anh cùng người vợ mới cưới đi hưởng tuần trăng mật ở vùng núi phía Bắc. Anh hồi đáp thư đặt mua tranh, câu chữ ngắn gọn, mềm mỏng nhưng chính xác.

Khi xóa thư quảng cáo, đột nhiên mắt anh dừng lại ở địa chỉ lạ gửi đi hơn một tuần. San cho biết đã trở về nước sau 5 năm ra nước ngoài học tập. Gần đây, cô theo dõi trên net các thông tin mới về anh. Cảm giác ngạt thở thoáng qua.

Người trông phòng máy mang đến cho anh cốc trả nóng. – Anh nhận tin tức khó chịu? – Gần như vậy – Vinh đáp khẽ – Tôi sẽ cố gắng tránh phiền toái. – Vì một phụ nữ? Vinh im lặng. Người trung niên trong bộ áo sọc cúi nhìn anh, chợt nhận xét: – Dù là người nước ngoài nhưng vợ anh trông thật dễ thương. Đây là một mùa đông đẹp. Chớ nên phí thời gian vào các dằn vặt không đáng. – Tôi hiểu – Hãy cùng vợ ở lại thị trấn này thêm vài ngày. Cuối tuần đỉnh núi hẳn sẽ có tuyết.

Nhiệt độ đang xuống thấp dần. Hiếm khi được vậy. Vinh cảm ơn vì cốc trà xanh và những lời khuyên tốt. Anh trở về căn nhà nghỉ riêng biệt. Cửa sổ vẫn mở. Aki thức. Màn hình chiếu những cảnh cuối bộ phim. Đàn ngựa cuồng nộ phóng trên thảo nguyên, cất tiếng hí chói tai. Người đàn ông khoác súng tuyệt vọng đi về phía đường chân trời. Các dòng chữ hiện trên nền trời xanh hoang dã. “Tên phim là gì vậy?” – Vinh hạ ánh sáng đèn ngủ. “Đêm của người thợ săn. Câu chuyện đơn giản đáng ngờ. Có lẽ vì thế nó khiến em muốn khóc. Em cần hút thêm điếu thuốc nữa!” – Aki hơi so vai.

Giữa khói thuốc lá hăng nhẹ, chợt cô ngoảnh lại: “Ban nãy có một phụ nữ gọi điện tìm anh. Cách cô ta nói chuyện như họa sĩ”. Choánh váng, Vinh khẽ đề nghị: “Em muốn chúng ta quay về thành phố trong ngày mai chứ?”. Hất nhẹ mái tóc mềm mại, Aki cười hạnh phúc: “Không! Em còn muốn thấy tuyết trên đỉnh núi ở Việt Nam”. Họ nằm im bên nhau. Hơi thở nhè nhẹ. Làn da ấm áp. Đêm của gắn kết say mê, của yêu thương sâu thẳm và cả sự xa cách mơ hồ mà người ta chỉ nghe ra trong bóng tối hiếm hoi. Vinh trở dậy mở thêm một cửa sổ. Các ngọn đèn thấp bên lối đi trải sỏi tỏa ánh sáng mờ đục. Những cái lá đột nhiên đỏ thẫm, tách bạch. Hơi ẩm nhìn thấy bằng mắt ở khoảng đất trống có màu tím nhạt. Tiếng chim vỗ cánh trong khu rừng đào dội vào vách núi. San đang lần theo dấu vết của anh. Sự phi lý nên thơ nhưng đôi khi trở thành nỗi kinh hoàng.

2.

Aki ốm đột ngột. Cô nằm im dưới chăn, cười với Vinh bằng đôi mắt mờ đi trong cơn sốt. Từ hôm trước Vinh đã sửa soạn túi máy ảnh cho cuộc đi lên đỉnh ngọn núi bên kia, nhưng bây giờ anh muốn hoãn lại. Aki phản đối mạnh đến mức anh ngạc nhiên: “Đừng vì em mà làm hỏng chuyến đi. Đôi khi một mình cũng dễ chịu”. Vinh nghĩ, nếu cô nhìn theo, anh sẽ tức khắc ở lại. Nhưng Aki quay vào tường và thở đều như sắp chìm vào giấc ngủ.

Người đàn ông giữ phòng internet cho Vinh thuê chiếc xe bám đầy bụi đất nhưng vững chãi. Ông ta đổ xăng đầy bình, kiểm tra phanh, giọng hài hước: “Ở các khúc quanh gấp, nó khó hạ tốc độ. Nhưng anh không sợ chứ?”. Vinh cười to. Khi nhìn lên, đối diện anh có một cô gái trùm mũ len đứng im. Thêm một bước ngắn, gương mặt cô ta gần như sát với mặt anh. Bao nhiêu thời gian trôi qua trong sự đối diện kỳ quặc ấy? Các sợi cơ mảnh trong lồng ngực Vinh run lên. Thình lình, cơn ác mộng biến thành vấn đề cụ thể. Cô gái trẻ ẩn mình dưới bộ áo họa tiết rực rỡ, mắt nhìn thẳng, vươn tay chạm vào tay anh: – Chính xác 5 năm chúng ta không gặp. Anh thay đổi. Giống như một người khác. – Nhưng em vẫn tìm ra anh, San. – Vì em cần phải tìm ra anh. Vinh lùi lại. Người chủ xe mang ra thêm chiếc mũ bảo hiểm, đưa cho San. Cô ta vội vã lên yên sau khi xe nổ máy, vẫy tay với người ở lại, dáng vẻ tự nhiên.

Xe chạy ra ngoài thị trấn. Mây mờ đục che phủ mái nhà nhấp nhô dưới thung lũng. Bước ung dung trên vỉa hè, vài người dân tộc xách trên tay các rọ tre lèn đầy quả đào. Quả cây còn ướt sương phả vào không khí hơi thở tinh sạch. Lũ chim hoang dã bay như điên qua đám cành cây gầy guộc, thi thoảng một con rơi xuống tựa chiếc lá khô và chết khi chưa chạm đất. Thật lạ lùng khi con người chào đón một buổi sáng tuyệt vời bằng những thái độ thật khác nhau, hờ hững thờ ơ, phấn khích, hoặc lo sợ.

Vinh cho xe phóng lướt trên các ổ gà, vượt qua đoàn xe chở hàng lầm lũi. Vì một cú xóc nào đó, San đã dựa hẳn vào lưng anh. Sự va chạm gợi lại ký ức xưa cũ, khi họ còn là những người yêu nhau. Xe chạy rất lâu. Khi trời hơi ấm lên, họ dừng bánh gần cây cầu treo, gửi xe và bắt đầu chặng đi bộ. San bước nhanh, không để lộ mệt mỏi dù đường dốc. Khi cô đặt các ngón tay dài mảnh vào bàn tay Vinh, anh buông chúng ra nhẹ nhàng: – Không cần bắt đầu một việc mà ta biết chắc sẽ hối tiếc. – Ngày hôm nay thật đáng nhớ – San lẩm bẩm – Em luôn thấy thoải mái khi gần bên anh. Cả khi anh muốn xô đẩy em rời xa… – Em muốn phá hỏng cuộc sống của anh bằng cách gợi lại điều đã qua? – Vinh nhắc nhở. – Nên quên thời chúng ta sống chung đầy khó khăn sau khi tốt nghiệp đại học. Anh không bán được tranh. Và em bỏ đi đứa bé mà lẽ ra chúng ta đã có, đúng không? – San ngước lên trời, như con ngựa non khoan khoái hít thở không khí trong lành. – Im đi! – Em biết. Chúng ta còn trẻ và luôn hy vọng cuộc sống là điều thú vị khổng lồ – Cô gái mỉm cười – Nhưng điều ám ảnh em suốt thời gian xa cách và ngay lúc này là công việc anh làm. Anh đang vẽ gì? – Không gì cả! – Tại sao lại thế? – Giọng San thấp, phảng phất nguy hiểm. – Vẽ khi thôi thúc bên trong đã mất là sự dối trá thô thiển. Aki giúp anh trở thành người vẽ tranh để bán. Công việc tiến triển tốt. Có thể anh bắt đầu quen cuộc sống dễ chịu. – Anh vừa nói gì cơ? – San hét lên, đăm đăm nhìn anh, đôi mắt đen thẫm tuyệt vọng. Tiếng hét dội vào vách núi âm oang khiến Vinh bàng hoàng.

Quãng đường núi họ dừng chân có chút gì bí hiểm. Tiếng thác rì rào trên các đỉnh núi xa. Những cây hoa đào trơ trụi. Đang mùa đông. Cỏ mọc giữa mấy phiến đá lát đường trơn tuột. Cô gái ngồi trên thân cây gẫy, gương mặt trống rỗng, dáng ngồi vừa thu mình, vừa chiếm lĩnh không gian. Sự lặng lẽ ấy thấm vào anh, cay đắng hơn mọi lời nói. Vinh cất tiếng gọi, khẽ khàng: “Lại đây!”. San đứng phắt dậy, vuột ngoài tầm tay Vinh. Trong cái chớp mắt không ngờ, anh trượt chân trên một phiến đá trơn, tuột nửa người xuống mép vực. Tay anh kịp níu một gốc đào. Sự im lặng mênh mông khiến San quay lại. Cô chậm rãi đến gần anh, ánh nhìn xa lạ. Có một tích tắc, Vinh tin cô sẽ bước đi, bỏ mặc anh giữa tình thế khủng khiếp. Những ngón tay đau buốt, tê dại. Mồ hôi đọng trên trán từng hạt to. Vinh nhắm mắt. Anh phải chấp nhận, như từng chấp nhận phản bội niềm đam mê được vẽ… San quỳ xuống gốc cây đào, nhìn thêm một lúc, rồi vươn tay kéo anh lên. Vóc dáng mảnh khảnh của cô ẩn dấu sự mạnh mẽ dẻo dai khác thường. Khi Vinh ngồi thở dốc bên bờ vực, cô gái bỗng thì thầm: “Em quyết định sai khi cứu anh, đúng không?”

Giữa trưa họ ghé vào một bản nhỏ, ăn cơm nấu trong ống tre. San đột nhiên trở nên tươi vui, đượm vẻ lãng quên bất cẩn. Cùng với nỗi kinh hoàng, cảm giác day dứt từng phút lớn lên trong Vinh. Suốt buổi chiều lang thang các đường mòn trong rừng, họ tìm thấy khoảng đất mọc đầy hoa đỗ quyên và mặt hồ nước lặng yên xanh. San hôn mạnh lên mắt anh, tay anh. Thời gian bỗng mất đi hiệu lực. Trên đường trở ra nơi gửi xe, một lần nữa họ băng qua cầu treo. Nước phía dưới đỏ ngầu, gầm rú. “Chúng ta chỉ có thể hạnh phúc khi làm việc đúng nghĩa – San thì thào – Và quan trọng là tình yêu sâu đậm anh vẫn dành cho em…”. “Nếu ta không gặp nhau nữa?” – Vinh thử hỏi. Vệt gió lạnh cóng thổi ngang họ. San nghiêng người, dốc cái nhìn chăm chú tối đen xuống dòng nước cuộn xoáy.

3.

Ngày thứ ba của cơn sốt, nhiệt độ Aki bỗng hạ xuống, gần như hoàn toàn bình thường. Nhợt nhạt, mái tóc chải thẳng khiến bề ngoài cô dịu dàng khác lạ. Thời tiết ấm, trời trong và xanh thẳm. Vinh đưa Aki đi dạo. Cô muốn đến phòng internet đọc thư. Người đàn ông trung niên ân cần đặc biệt với Aki nhưng như thể không nhìn thấy Vinh. Chỉ là một thái độ không đáng, tuy nhiên khiến anh cô độc. Aki kiểm tra công việc các phòng tranh, hơi lo lắng khi một số tác phẩm không bán được như dự đoán. Vinh khuyên vợ thảnh thơi đầu óc và đề nghị sớm quay về thành phố. Cô im lặng, có vẻ dằn vặt.

Hai người đi xuống trung tâm thị trấn cũ xưa. Vài họa sỹ quen vẫn gửi tranh bán tại gallery của Vinh cúi chào đôi vợ chồng trẻ từ xa nhưng lảng tránh. “Họ không vồ vập chúng ta như lúc chúng ta ở thành phố?” – Aki băn khoăn. “Kinh doanh nghệ thuật chỉ đáng trọng vài lúc và vài nơi thôi!” – Vinh nở nụ cười châm biếm. Aki nhíu mày: “Anh tiếc nuối đã từ bỏ sáng tác để cùng em mở các gallery buôn bán tranh?”. Vinh lặng đi, kinh hoàng hệt khi trên bờ vực. Aki không nói thêm, như một người đóng chặt các cánh cửa và theo đuổi ý nghĩ giấu kín. Ở cuối con dốc vắng vẻ, họ ngồi nghỉ chân trên càng xe thồ hàng, Thùng xe trống rỗng thơm mùi hoa hồng. Có lẽ ban sáng nó chở hoa vào thị trấn. Vinh ủ vợ trong tay. Cuộc sống của họ, tình yêu của họ gắn kết với công việc, vì thế nó vừa mãnh liệt, vừa mong manh biết bao. “Từ ngày biết em, được lấy em làm vợ, anh đã rất vui, Aki!” – Vinh ôm cô chặt hơn. Đôi mắt cô trong suốt.

Đêm đến sớm, lạnh cóng. Nhiệt độ xuống rất thấp. Gần sáng, vọng đến tiếng hí hoang dã u buồn của những con ngựa trên núi. Aki đánh thức Vinh ngủ vùi cùng đi xem tuyết rơi. Bầu trời xám nổi lên vệt sẫm xanh huyền ảo. Khách du lịch thức giấc lặng lẽ đi trên đường. Quang cảnh giống như một chuyện cổ tích có ma. San đi ngược chiều Vinh và Aki. Cô nhìn xoáy vào anh, mắt như những viên than cháy lên, gào thét. Cảm giác bỏng rát bám chặt Vinh cả khi tuyết bay dày. Vạn vật cuốn vào chuyển động kỳ bí. Thoáng chốc, sườn núi và các vòm cây vươn cao phủ trắng. Đêm tỏa sáng. Aki đứng im, lặng lẽ khóc.

4.

Ngày cuối cùng của tuần trăng mật. Vợ chồng trẻ xếp đồ đạc vào chiếc valise da thuộc. Aki ngồi xếp chân trên giường, châm một điếu thuốc nhưng rồi dụi đi. Cô lẩm bẩm sẽ sớm bỏ thuốc. Vinh cười, bảo thói quen ấy nơi cô có thể cảm thông. Aki lắc đầu: “Không, em chợt nghĩ là mình đừng nên phụ thuộc vào một điều gì cả!”. Cô khép các ô cửa sổ, có vẻ buồn. Aki lơ đãng gói bức ký họa vẽ cô gái trẻ nằm dưới hoa đào, nét vẽ tuyệt đẹp của họa sĩ nào đó mà bây giờ Vinh mới lưu ý. Họ đã mua vé xe lửa chuyến chiều tối. Thời gian còn lại, hai người thử tìm đến quán cà phê nổi tiếng của thị trấn.

Quán nhỏ khô ráo. Một nhóm đông khách ngồi gần lò sưởi rì rầm trò chuyện. Cà phê nóng pha rượu khiến đôi mắt Aki long lanh như phủ sương và gò má ửng lên. Cô bỗng nói nhanh, khác hẳn thói quen trầm lặng kín đáo thường ngày: “Thức uống ngon. Không khí trong sạch. Em yêu sự tĩnh mịch nơi đây. Nó như bức thông điệp không đáng sợ của sự cô độc. Có thể, em sẽ phải đối diện bất hạnh”. “Cô ấy biết tất cả!” – Ý nghĩ lạnh buốt xâm chiếm Vinh. Anh vươn tay qua bàn, cầm bàn tay vợ. Aki thoáng rụt lại khi cô gái trong nhóm người gần lò sưởi bỗng đứng lên, nhìn về phía họ, ánh mắt quả quyết. Giọng Aki rất trầm nhưng vang lên rõ ràng, như chuỗi âm thanh chạm nổi vào không gian: – Anh từng yêu cô họa sĩ ấy? – Trong 3 năm! – Vinh nói khô khan. – Cô ta đến tìm em hai hôm trước, tại nhà nghỉ. Bức ký họa do cô ta vẽ tặng cho em sau cuộc nói chuyện. San bước về phía bàn đôi vợ chồng. Cô tự kéo ghế ngồi, mái tóc ngắn hơi bù xù khiến cô giống chú nhóc bướng bỉnh. Cô hít một hơi dài, nheo mắt: – Hai người sắp bỏ trốn em, đúng không? – Đừng nói vậy! – Vinh nhắc. – Em sẽ không đập phá bàn ghế, không gào thét khi hai người lên tàu đi mất – San nhợt nhạt – Em thất bại, một khi anh hài lòng với hiện tại, với cuộc sống trưởng giả, với vô số thói quen trống rỗng. Đến lúc em không nên làm phiền hai người nữa… Không rời mắt cô gái có ánh nhìn tuyệt vọng, Aki hiểu loáng thoáng những gì cô ta nói. Vinh ngồi lặng. Ngôn từ tựa như mũi khoan nhọn chạm vào sự thật sâu xa thảng hoặc vẫn khiến anh kinh hoàng. Vinh nhìn ra ngoài cửa kính.

Bầu trời màu thép xanh cuồn cuộn mây trên nóc tu viện cổ. Một cành cây thấp rung nhẹ, cái khấc đỏ thẫm, dấu hiệu của chồi lộc khi mùa xuân tới, đọng một hạt nước phản chiếu cả không gian mênh mông.

5.

Cuối năm, đôi vợ chồng trẻ đóng cửa các phòng tranh. Họ chia tay không lâu sau đó. Vinh vẽ trở lại, lảo đảo vượt qua những nghi ngại chính mình. San chuyển đến sống cùng anh. Khi sáng tác, cô không lưu ý chung quanh, kể cả Vinh. Đôi lúc họ tranh cãi. San bỏ đi đâu đó nhưng luôn trở về trước khi anh lo sợ gần phát điên. Như một ám ảnh kỳ quặc, Vinh thường hoài nhớ vài cảnh thoáng qua phim Đêm của ngưởi thợ săn – Đường phố dài nhìn từ trên cao. Người đàn ông trẻ thong thả giấu khẩu súng dưới áo khoác… Sự tất bật của đời người. Hạnh phúc hay bất hạnh đột ngột đến với ta chỉ bằng cơ hội mong manh. “Lại được vẽ – Anh tự nhủ – Ta còn đòi hỏi gì hơn nữa?”. Trở về nước, Aki giữ liên lạc với Vinh qua e-mail. Ngoài một số thông tin giản dị, cô không đi sâu vào suy nghĩ riêng. Bỗng nhiên, người anh từng thương yêu trở nên hoàn toàn xa lạ.

Tháng Chín, tức chưa đầy một năm kể từ ngày chia tay, Vinh nhận lá thư viết tay cuối cùng của Aki. Cô tự sát bằng hơi đốt. Trong cái phong bì khổ lớn, có gửi kèm bức ký họa bút sắt vẽ cô gái khỏa thân nằm dưới hoa đào, dáng nằm kín đáo, thanh tao. Qua thời gian, một niềm vui nhẹ nhàng thấm vào chất giấy, tựa như có hơi thở khoan dung, thanh thản vừa mới thoảng qua.

Standard
Văn

[P.H.N] Pelikan

Đây là câu chuyện về một đầu bếp cô độc tên là Pelikan, trích từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Phan Hồn Nhiên.

Hơi nóng làm dậy lên hương thơm thảo mộc. Hơi nóng ấy cũng thấm qua lớp da sứ mỏng, truyền vào ngón tay thô sần của ông niềm an ủi câm lặng. Ông nhấp 1 ngụm nhỏ, giữ nó dưới lưỡi. Ông bỗng nghe thấy tiếng than vãn rì rào của cánh rừng sắp trải qua mùa Đông dài dặc. Ông để cho dòng nước chảy xuống cổ. Lại vọng về hơi thở hổn hển của mùa hè oi bức vừa qua…

*

Trong sự chứng kiên của đám đông, Pelikan lột sạch bộ quần áo trên người, lội xuống sông băng đã tan hêt nhưng nước vẫn lạnh tái tê. Chàng trai mươi sáu tuổi cảm nhận rõ rệt cái chêt của bản thân khi mạch máu dưới da co thắt. Khối cơ trong lồng ngực dừng lại vài giây. Còn không khí trong hai buồng phổi đông cứng. Cái chết hiện diện điềm nhiên, bên trong bộ da căng mọng trắng toát của chính anh. Được thúc đẩy bởi người đồng hành mang bộ mặt chết chóc ấy, anh bắt đầu khoát tay, đập chân, chuồi cơ thể vào làn nước xanh rêu. Tự thấy mình đã biến thành con cá to lớn trắng nhợt, anh quẫy mạnh. Đám đông lô nhô đứng chết lặng trên bờ sông. Anh đang rời xa họ, rời xa nỗi muộn phiền mà bọn người độc ác vô tâm ấy vẫn vui vẻ trút lên anh mỗi ngày.

Sức lực không phải là thứ Pelikan sở hữu dồi dào. Được gần nửa mặt sông, anh bắt đầu lả đi. Nỗ lực quá mức. Vài mách bảo trước đó về lợi dụng luồng nước hoàn toàn vô nghĩa. Thân nhiệt của anh đang sụt giảm nghiêm trọng. Dù chuyển động ít hơn đồng nghĩa nguy hiểm hơn, Pelikan vẫn bơi chậm lại. Anh nhìn rõ những vân sóng lấp loáng, mái tóc của chính mình rập rờn như đám tảo hung. Cái chết lại hiện ra, không chỉ bên trong mà ngay trước mắt anh, biểu hiện thành gương mặt những người sinh ra anh, đặt anh vào cuộc sống khó nhọc này nhưng lại chết đi trước khi anh kịp nhớ mặt họ. Trong khoảnh khắc giá buốt đau đớn ấy, anh thình lình ngoi đầu lên khỏi mặt nước, gào to. Đó cũng là khi một cơn mưa đổ ập xuống, tạo nên lớp nước ấm áp phủ trên bề mặt con sông. Nương theo dòng chảy của lớp nước ấy, Pelikan dạt sang bờ bên kia. Anh nằm sấp trên bờ sông thoai thoải, gương mặt, bụng và dương vật lún sâu xuống lớp bùn nhão. Một nơi chốn yên tĩnh vắng người. Trong cảm nhận rõ rệt về những nhánh cỏ đang cựa khẽ, sắp sửa nhô lên từ bên dưới lớp bùn tươi, Pelikan trẻ tuổi ngủ thiếp đi…

*

Tảng sáng, ông nghe tiếng thắng xe ngựa để lên kinh đô. Tiếng chủ nhân nói to, giọng phu nhân và các tiểu thư ríu rít tươi vui hỏi nhau đã mang theo giỏ thức ăn cho Pelikan chuẩn bị hay chưa. Rồi tiếng xe xa dần. Ông sẽ có cả tuần rảnh rỗi để đi gặp những nhà buôn cung cấp thực phẩm, đến khu vườn của các nông dân kiểm tra nông sản sẽ có cho mùa Thu và mùa Đông. Trời lại mưa trên mái ngói, trên những khung gỗ ẩm mục, trên những đỉnh cây lúc này chưa thể nhìn rõ, trên một trăm dặm vuông những truông và đầm lầy. Ông ngồi dậy, nhìn trừng trừng ra ngoài khoảng không mù mịt bụi nước. Khoảng sáu giờ, ông khoác chiếc áo tơi, đi ra ngoài mưa. Mưa quá lớn xóa nhòa lối đi bộ, và lạnh. Cái lạnh báo hiệu mùa Hè đang ở mấy ngày tận cùng. Ông quay trở về bếp, làm một đĩa trứng với thịt xông khói. Nhưng khi ngồi vào bàn thì cảm giác thèm ăn đã biến mất. Ý nghĩ ngồi xuống ăn chúng một cách tử tế luôn làm ông khó chịu. Rốt cuộc thì ông chỉ uống một cốc sữa lạnh. Cảm giác bồn chồn vẫn không dịu đi.

Nhặt mấy quả táo, cam, vốc dăm nắm anh đào và phúc bồn tử, ông đặt tất cả lên bàn, làm món nước quả dầm. Sau khi giết kẻ trộm thực phẩm, ông phát hiện ra khoái cảm đặc biệt khi chế biến món giải khát này. Bằng sức mạnh tự nhiên của bàn tay, ông bóp nát những quả cây mềm mại. Dòng chất lỏng ứa ra dồi dào, tủa qua các kẽ ngón chắc mập như thứ máu tươi tắn mát rượi. Rồi chúng chuyển hẳn sang sắc thẫm đen khi từng giọt chảy dọc theo lòng âu bạc. Ông thêm vào những thìa ờng cây thích. Chất lỏng trong âu sánh lại. Ông nhớ lại mong muốn được nhìn thứ máu tươi thực sự từ cổ một kẻ nào đó chứ không phải là cái chất lỏng đen sánh vì thạch tín rỉ ra từ miệng tên trôm, như các nữ thợ giặt ồn ào kể lại, khi họ tình cờ thấy hắn nằm gục cách lâu đài nửa dặm, với khoanh thịt muối giấu trong lớp áo rách bươm, còn khuôn mặt vẫn nguyên vẹn vẻ đau đớn và không hết ngạc nhiên. Ông không ân hận về việc xỏa bỏ một sinh mạng. Ông đã ngủ ngon sau khi hành động. Chủ nhân lâu đài cũng bảo vệ ông, bởi đó là việc cần làm và một tài năng dữ dằn được quyền làm.

Nhưng nỗi ám ảnh khác, thầm kín, đeo bám ông. Hơn một lần, Pelikan nhận ra mình mong mỏi thực hiện lại động tác đặc biệt ấy. Sẽ làm tốt hơn. Trực diện và thành thục hơn. Nhưng mấy năm đi qua, cơ hội vẫn chưa trở lại. Không phải vì vùng đất này đã hết những kẻ lang thang trộm thức ăn. Cũng không phải nỗi e sợ bị trừng phạt, bị xua đuổi khỏi các hoạt động nhà thờ khiến ông chùn tay. Mà bởi ông không cảm thấy dịp may tương tự nữa.Pelikan phủ lên âu bạc tấm vải mỏng. Ngồi trên băng ghế cứng, buông thõng hai bàn tay nhâm nhấp mật quả, ông mường tuong lần thứ một ngàn cảnh tượng tên trộm khoan khoái dốc thứ chất lỏng ngọt lịm che giấu lượng độc chất đủ tiêu diệt lũ chuột trong vài mươi năm. Giữa các hình ảnh bóng bẩy ấy, ông cắn môi, bật ra tiếng cười khan. Tiếng cười làm giật mình chính ông. Và người đầu bếp lại tiếp tục nhìn ra màn mưa bất tận, không suy nghĩ gì thêm.

*

Đến trưa, khi nhóm người phụ việc đã rút đi hết, ông cởi áo, lau sạch những vệt mồ hội chảy dọc cái cơ thể đang ngày càng béo lên. Những đường nét cuối cùng mất dấu dưới các lớp mỡ xám ngoét. Sắc da trắng mượt đã bị đám lông vàng hung của tuổi trung niên nuốt chửng. Nỗi chua chát ngấm ngầm. Ông, chính xác là cơ thể ông, đang già đi. Sự to béo như một phép phúng dụ về việc chiếm lĩnh quá nhiều không gian, nhưng đúng như mọi vật thể già nua, nó không hề mang lại cho không gian những điều tốt lành tương ứng. Có chăng, cả hình khối đồ sộ này trong mắt chung quanh chỉ là một lời nhắc nhở về sự cân bằng nguy hiểm, khả năng bền chắc khi bám vào một nơi chốn cố định, nhưng vượt lên trên hết, vẫn là lời báo hiệu nực cười về tình trạng ruỗng mục chực chờ phía trước. Trong khi đó, gã trai trẻ khiêu khích ông lại là một bức tượng đang trong quá trình đẽo gọt. Mỗi cái nhìn của ông như một mũi nêm, đục bỏ những mảng đá thừa còn bọc quanh gã. Rồi gã sẽ thành hình, sẽ bước đi, rồi sẽ thay chỗ cho ông.

Một đoạn nến cháy nhanh làm cho ánh sáng tầng hầm rực hơn thường lệ.

Pelikan nheo mắt. Các đồ đạc, vật dụng trong kho như được nhìn qua lớp kính phóng đại, dần biến hình, tạo dựng nên một không gian khác. Cho đến một lúc thì đầu óc sáng suốt lạ lùng được bủa vây bởi một phong cảnh trong rừng cuối Hè. Ông vẫn thích ảo giác mình đang đi vào rừng, đi một mình, biết chắc không ai đeo bám.

Làn gió nhẹ. Ánh nắng đều đặn làm cho thời gian trở nên đồng nhất, trộn lẫn các thời khắc trong ngày. Hoàng hôn này nối tiếp hoàng hôn kia trong một sự phẳng lặng không thay đổi. Ông nhìn rõ trong dĩ vãng đã lâu lẫn chỉ mới hôm qua những khuôn mặt, những cái miệng mà ông đã yêu từ xa, những thân thể không phân biệt mà vài cuộc gặp gỡ bất ngờ, những tình cờ va chạm buổi chiều hay buổi tối đã ráp lại với cơ thể ông. Tất cả cấu thành một khoái lạc ngắn ngủi, một hạnh phúc không lặp lại. Ông đã có hết thảy những điều đó rồi ông không biết mình đang để nó trôi qua. Thời gian sống của một đời người thường lướt đi luôn nhanh hơn vận tốc mà người ta có thể trù tính. Lúc trẻ, ông đã tự tạo cho mình một vài mơ ước sống động, như làm bác sĩ đặt bàn tay lên một kẻ đang hấp hối, hay trở thành một người vẽ những bức tranh trên tường nhà thờ. Rồi dần dần ông tự hạ xuống theo các giấc mơ tầm thường hơn: Có một ngôi nhà riêng với thửa vườn xanh tốt khi Xuân về, có lối đi để ông xúc tuyết, dọn sạch cảm giác ảm đạm trong những ngày Đông. Còn giờ thì ông nhận ra tất cả đều trên đà tan rã. Thời gian phía trước của ông đang biến thành một tấm màn sơn lu mờ, không gì có thể vẽ lên được nữa. Có còn kịp không nếu ông bỏ hết tất cả những gì đang có, chẳng hạn ông sẽ đi ra biển, làm đầu bếp trên một con tàu buôn, rẽ ngoặt dòng đời sang một hướng không thể đoán định nữa?

Viễn ảnh về biển làm ông tươi tỉnh hẳn lên. Ông bước sâu hơn vào khu rừng của trí tưởng tượng. Các tầng cây ẩm ướt đơm hoa. Những quả chín rục dưới đế giày. Tiếng xì xào trong giấc trưa lóng lánh. Vài tia nắng táo bạo hiếm hoi len đến tận gốc cây phủ rêu mà ông vừa ngả lưng xuống nằm. Và rồi khi ông vờ như bước vào trong giấc ngủ của ý thức chìm sâu, một con bồ nông khổng lồ với đôi mắt trong suốt tinh nhanh và bộ lông bóng bẩy khỏe khoắn bước đến, nhìn xuống ông…

Ông mở choàng mắt, gã trai trẻ, từ lúc nào đó, đã quay trở lại tầng hầm. Gã đang đứng cạnh ông, cúi nhìn thân hình đồ sộ nằm thượt trên băng ghế dốc. Vẫn cái giọng liến thoắng nhưng lúc này được hạ xuống, gã hỏi ông có mệt lắm không. Rồi gã tự động ngồi xuống, đặt bàn tay lên cánh tay ông. Khi ông nghĩ gã sắp rút tay và bỏ đi như gã vẫn bỏ đi thì những ngón tay đó thăm dò siết nhẹ. Ông bỗng ngửi thấy mùi của một súc gỗ thông đang ứa ra thứ nhựa nồng hắc, say sưa và hứa hẹn bất cứ lúc nào đều có thể bốc cháy. Ông nhắm mắt. Thứ đang chạm vào ông là thứ hạnh phúc không thể nào ngó thẳng vào được. Nó vượt qua mãnh lực của khối cơ trong lòng ngực. Nó hứa hẹn nó chính là thứ mà ông hằng thiếu thốn: Sự gắn bó, cảm giác gần gụi, hay gọi đây là sự lệ thuộc cũng chẳng sai lầm gì.

Ông cựa nhẹ, ánh mắt ông vuốt ve mấy lọ thủy tinh đựng hành nâu nhớp nháp và những ổ bánh mì để lâu hình thù trở nên quái dị vẫn còn trên kệ. Cái hương vị đặc trưng của các tảng phó mát nặng mùi, mùi ngô chua nồng và mùi oi của những tảng thịt sấy khô luồn vào phổi nhưng ông chẳng bận tâm nữa. Gã trai trẻ đã quỳ hẳn xuống, vòng tay qua ngực ông. Cái áo lót rách bươm của gã mở toang. Giá như đồng tử trong mắt gã đừng giãn quá rộng, cặp nhãn cầu trong vắt đừng phản chiếu ngọn nến đang rực lên phía sau lưng ông thì đây quả là một cảnh tượng ông vẫn hằng mơ. Ông nhìn chếch sang một điểm phía sau vai gã. Hơi ấm. Sự xoa dịu. Cảm giác thực của việc tiếp xúc. Nay, ông đang cảm thấy mình sắp được bao trùm, thâm nhập. Nó sẽ thấm qua làn da ông, lớp mỡ ông, xuyên qua xương, lần theo tủy sống, cho tới khi chạm đến hốc rừng sâu thẳm nhất, nơi bóng tối dưới lớp lá mục là chất trụ cuồng nhiệt và vẻ bất động mà nó khoác lên chỉ là để đánh lừa những cặp mắt nếu có đang tọc mạch dõi nhìn…

*

Đã hết Hè. Trời chuyển lạnh, nhất là ở những lều săn trong rừng thì giấc ngủ khó về. Lá bắt đầu khô. Chỉ một mồi lửa cũng đủ để làm cháy bùng lên cả cánh rừng trải rộng. Gã trai trẻ trở về qua cửa gian bếp, nơi ông đặt thùng gỗ lớn, đang chờ nước đun từ bếp lò đổ sang để tắm. Gã vứt luôn cơ thể gã xuống chiếc ghế Pelikan thường ngồi. Lửa đỏ thở phập phồng trong lò sưởi. Ông mang ra cho gã đĩa thức ăn. Trong khi gã ăn, uống và tận hưởng hơi ấm, Pelikan đứng bên ô cửa sổ có tầm nhìn thấp lè tè, trông ra bóng đêm xuống chậm. Nếu có tiếng động nào đáng kể, thì đấy là tiếng đôi giày gỗ lê bước lộc cộc của chị thợ giặt. Chị ta mang những cây nến đi ngang qua sân, hay đúng hơn là kéo các đốm sáng chập chờn ngang qua bóng tối…

Ở đây, trong căn bếp này, ông đã nghe thấy tiếng nói từ đôi vợ chồng gia nhân cùng lứa với ông, bàn về căn bệnh tê thấp ắt sẽ tái phát khi thời khí lạnh ẩm. Mỏng hơn một chút, là lời từ chối cho ra vẻ của cô hầu phòng trẻ tuổi với ông chồng bà chủ, rằng cô không thể mở chốt cửa cho ông vào phòng. Rồi sau đó là tiếng thở dài cam chịu của bệnh tật. Âm thanh một nụ hôn sâu dẫn thêm tiếng cười khúc khích rạo rực của hai kẻ biết rõ những động tác xác thịt mà họ sẽ dành cho nhau sau vài giây nữa. Đột nhiên, gió thổi mạnh. Tất cả đều im tiếng. Sự im lặng trang nghiêm buộc các nhộn nhạo của đời sống tủn mủn phải nín bặt. Sự im lặng kỳ dị đến độ gã trai phía sau ông cũng nhỏm lên, nghểnh cổ, xem ngoài ô cửa thực sự điều gì đang xảy ra.

Pelikan bất động. Ông quá hiểu sự im lặng của thiên nhiên hùng vĩ ngoài kia, và sự im lặng nằm ngay bên trong chính ông. Không một sinh vật còn sống nào muốn chôn vùi mình trong câm nín. Hết thảy đều muốn được cất tiếng, được lắng nghe. Thế nhưng cái chốn đầm lầy hồ truông hẻo lánh này là một sự câm nín vĩnh cửu. Nếu có âm thanh nào đó còn bật ra cũng chỉ là tiếng khóc đã nén xuống, tương tự như tiếng vỡ bục của các bọt khí tận sâu dưới mạch nước ngầm.

Ông hiểu nỗi cô quạnh và sự câm lặng trong lòng mình rõ nhất kể từ mấy đêm qua. Sự vắng mặt của gã trai trẻ khiến ông hồi nhớ thời khắc cuối khi gã nằm bên ông. Giấc ngủ nồng sực của gã luôn tràn đầy trong căn phòng khiêm nhường, để những cây dương lá rung ủ rũ ngoài kia cũng trở nên sống động. Những vì sao nở to, trắng xanh. Ông nằm im như thế, không động cựa, cố gắng hút vào bên trong, bằng tất cả các giác quan, cái khoảnh khắc này, cái bầu không khí trìu mến mà không làm ông khó xử, cái vẻ đẹp đẽ hào phóng của bầu trời và sinh vật đang nằm cạnh mà ông biết sẽ chỉ ở bên ông trong vài thời khắc ngắn, cái hơi ấm êm nhẹ của sự gắn kết mà loại người như ông không bao giờ nên nghĩ đến quá nhiều. Trong cảm giác bồng bềnh trôi về các giấc mơ của tuổi thanh xuân, ông đã chậm rãi nhấc đầu dậy, ngoảnh nhìn sang khuôn mặt say ngủ.

Gương mặt say ngủ ấy choàng tỉnh. Hỏi ông có muốn chơi không bằng câu hỏi cộc lốc và nhận lại cái lắc đầu thản nhiên, gã bỗng trở nên hoạt bát. Đặt một bàn tay lên ngực ông, gã bắt đầu huyên thuyên. Tất cả dễ dàng trào ra trên cái khuôn miệng mềm mại đỏ thắm. Gã nói nhiều, chuyện này vắt qua chuyện khác. Đôi khi một ý tưởng nghe khá hay ho khiến ông chăm chú chờ nghe đoạn kết ra sao thì đã bị cắt đứt, bắt sang một đề tài tầm ruồng khác. Đó là khoảnh khắc ông tự hỏi, liệu mình muốn gì hơn trong cuộc đời còn lại. Những đêm yên tĩnh từ Hè sang Đông sang đến thời gian nằm im dưới mồ, hay những đêm hiện diện một kẻ khác cạnh bên, đi kèm với nó là vô số âm thanh huyên náo của lời nói, phần nhiều là vô nghĩa và trống rỗng. Ông nhắm mắt, vờ như sắp đi vào giấc ngủ. Nhưng gã chẳng chịu thôi đi cho. Giờ thì là chuyện về gã, các suy nghĩ, dự định, kế hoạch, ước mơ của chính gã.

Gã đề nghị ăn cắp tất cả các đồ bạc quý giá của chủ nhân lâu đài, đem bán cho một nhà buôn vãng lai ở bến cảng. Một khoản tiền đủ để cả hai sống thoải mái một thời gian dài, ở thủ đô, giữa các khu phố tấp nập kẻ đến người đi… Một kế hoạch không thể thô sơ hơn và tầm thường hơn. Nhưng chính vì thế nó mang theo một khả năng không thể quyến rũ và dễ dàng hơn. Khi đã nói hết, gã trai thúc khuỷu tay vào bụng ông, nhắc nhở. Ông từ chối. Gã đã nổi giận, buông ra hàng tá các lời khinh miệt cục cằn với ông và cơ thể thô kệch của ông. Đêm sau thì gã bỏ đi.

Trong gần tuần lễ gã trai chui rúc xó xỉnh nào đó của những cánh rừng, ông đã ngẫm ngợi, mường tượng rất nhiều khả năng mà ông có thể thực hiện với gã trai trẻ. Viễn ảnh đến thủ đô gia nhập vào đời sống ồn ào, hay lênh đênh theo con tàu hàng đi xuống những vùng biển Nam đầy nắng làm bụng ông cồn lên. Nhưng giấc mơ chỉ đến thế, không thể cuốn đi xa hơn. Các ưu thế ông có ngày một ít hơn, kém hấp dẫn hơn với những con mồi mà đau đớn thay, sức quyến rũ càng ngày càng trở nên rực rỡ hơn. Chẳng mấy chốc, ông sẽ tan lẫn vào sắc xám nhờ duy nhất. Ông chỉ còn là một khối hình to béo, một cái bao da rệu rã và xộc xệch, một tảng mỡ ngay cả khi bốc mùi ôi thiu vẫn được gọi theo thói quen là Pelikan. Họ sẽ chẳng buồn nhìn ông nữa, chứ không chỉ là không nghe hay không nói chuyện cùng. Ý nghĩ cuối xộc thẳng tới, với tất cả sức mạnh của thứ sự thật đơn giản. Nó cắn xé, làm sự thản nhiên và yên tĩnh nơi ông trở nên nham nhở, ngả nghiêng như những gốc dương cổ thụ sau đợt mưa bão.

Giờ thì gã trai của ông trở lại. Gã đang rất vui vẻ và tin rằng ông cũng vui vẻ. Với loại người này, không bao giờ có sự dằn vặt hay cảm giác ân hận. Ngôn từ của họ nghèo nàn, bởi họ chỉ dùng nó gọi tên những thứ họ muốn. Họ xông vào mọi nơi, chộp lấy mọi kẻ đi qua bằng sự trống rỗng của thói quen. Họ tung lên những gì họ muốn chiếm lấy tấm lưới dệt bằng các từ vựng cũ mòn cùng những nút thắt thô bạo. Không biểu đạt xúc cảm nào bằng lời nói đủ sức len lỏi qua lớp vỏ chai lì mà họ có được một cách tự nhiên. Chỉ có hành động cụ thể, đáp ứng các mong mỏi cụ thể, dù đôi khi hành động và mong mói ấy đều quá mức thấp kém, mới đủ sức mạnh khiến họ hài lòng…

Gã trai trẻ vẫn đứng sau lưng, nhìn qua vai ông ra bóng tối. Gã áp cơ thể phía trước của gã vào phần sau cơ thể ông, thăm dò, nghe ngóng, chờ đợi. Ông trân người. Gã trai trẻ đã nắm thóp ông, đang mỉa mai ông bằng trò chơi tiếp xúc câm nín.

Giá như gã cứ ngậm miệng.

Nhưng trạng thái bốc đồng lâng lâng dẫn gã quay trở lại với đề tài ám ảnh, đánh cắp và trốn đi. Ngôn từ lại trào ra. Gã nói say sưa, hứa hẹn bằng các viễn tưởng cụ thể, tỉ mỉ, thô kệch. Để khuyến khích sự táo bạo trong Pelikan, gã áp mạnh hơn cơ thể gã vào cơ thể phía trước, gần như một sự xô đẩy trĩu nặng.

Trong khi đó, dòng suy nghĩ điềm tĩnh và hiển nhiên bảo với ông rằng, ngay cả giấc mơ đó dễ dàng thực hiện đến đâu, thì rốt cuộc nó cũng chỉ là một ảo ảnh. Tính chất phù phiếm của nó chẳng kéo dài lâu. Trong khi cuộc sống của ông, trong một góc bên rìa lâu đài này, dưới bóng râm của những tán rừng này sẽ vững chãi và bình ổn theo đúng cách ông muốn. Hà cớ gì ông phải chịu đựng một kẻ nông cạn nhưng thích cường điệu đang tìm cách nhổ phăng ông ra khỏi cái ổ an toàn. Liệu ông sẽ làm những gì ông biết hay đành phó mặc cho cái cơ thể trẻ trung phía sau giành quyền điều khiển…

“Nếu tôi không làm những điều cậu vừa nói?” Ông hỏi.

Cánh tay vòng quanh ngực ông khựng lại:

“Ông sẽ làm. Đâu thể sống thế này mãi. Ông không thấy đã quá đủ khi bám vào vùng đất đầm lầy hay sao khi mà ông còn cả một cuộc đời phía trước?”

“Ai còn có cả một cuộc đời phía trước? Cậu hay tôi?”

Chen vào giữa ông và ô cửa sổ, gã trai trẻ lúc này thực sự chắn mọi góc nhìn:

“Ông cho tôi cái tôi muốn. Tôi cho ông cái ông muốn. Tôi cần ông và ông cũng cần đến tôi.”

“Tôi không cần đến cậu. Cậu cứ việc bỏ đi, cứ mặc sức làm những điều cậu muốn. Tôi không ngăn cản. Về phần mình, tôi sẽ không có gì cần làm phiền đến cậu.”

Không mảy may nao núng, đôi mắt kia phản chiếu các đốm sáng nến, tinh ranh:

“Sai rồi. Tôi có tất cả những gì mà ông muốn. Một ai đó để ông không hổ thẹn.”

“Tại sao lại có hổ thẹn ở đây?” Người đầu bếp sững sờ.

“Đôi khi cô độc quá làm người ta đau ốm. Hoặc đau ốm làm người ta thấy cô độc. Rồi sẽ đến lúc người ta không thể tự chăm sóc bản thân. Mong muốn thảm hại được có ai đó ở bên cạnh an ủi. Hay thấp hơn nữa là hy vọng được nói chuyện để thấy mình không chết khi đang còn sống. Hết thảy những thứ như thế đều gây xấu hổ. Nhất là loại người hay suy nghĩ như ông.”

Pelikan run rẩy. Cái con người ông vẫn quen chỉ xem như một cơ thể lúc này hiện ra trong dáng vẻ vô cùng lạ lẫm. Của một thiên thần tăm tối. Của một nhà tiên tri ngụy trang trong xác thịt người phàm. Làm sao có thể tin nổi chính cái kẻ nông nổi và hời hợt kia lại có thể nói ra những điều chính gã chưa từng trải nghiệm. Nhà tiên tri trẻ trung hiểu rõ sức mạnh trong lời nói của mình. Gã thoải mái đặt cả hai tay lên vai Pelikan. Vẻ nhâng nháo bỡn cợt biến mất. Thay vào đấy, đôi mắt gã ánh lên sự toan tính khôn ranh của một người từng thuộc giới học hành:

“Tôi sẽ lên thủ đô. Sống thoải mái một thời gian. Sau đó lên tàu biển rong ruổi một phen. Khi nào thấy chán thì quay lại đất liền, cưới cô ả nào đó có tiền, tòi ra vài đứa con, và sống phần đời còn lại như tất cả lũ người chung quanh vẫn sống.”

Ông nhìn thẳng vào đôi mắt gã:

“Còn tôi thì thế nào?”

Buông tay khỏi Pelikan, gã trai trẻ nhún vai:

“Làm sao tôi biết được. Lên tới thủ đô, chắc gì chúng ta còn ở cạnh nhau. Ông có nghề nghiệp, ông thừa sức kiếm khá. Còn tôi trở về với đám bạn của tôi. Làm sao tôi có thể đi cùng ông tới mọi nơi được, dù dưới danh nghĩa gì.”

“Cậu không thích xuất hiện với tôi, vì tôi chỉ là đầu bếp? Một tên béo xấu xí? Hay vì tôi đã già?”

“Vì ông đã già. Một cuốn sách tôi đọc mới đây có nói rằng tuổi già là sự xấu xí và thảm bại của con người trước tự nhiên…” Gã bĩu nhẹ đôi môi đỏ thắm “Nhưng nếu đi cùng tôi, thì ông sẽ không phải đối diện những kết cục ấy sớm như khi ông ở lỳ nơi đây.”

Trong tích tắc, như một con chó rũ sạch đám nước ướt sũng sau chuyến bơi qua sông, gã quên ngay câu chuyện vừa nói, lấy lại vẻ hăm hở:

“Nước đã nóng rồi đấy. Ông có nghĩ bây giờ mà tắm thì dễ chịu không?”

Người đầu bếp gật đầu. Trong khi ông bước sang gian bếp bên kia sửa soạn nước nóng với chậu gỗ tắm, gã trai trẻ quay lại chiếc ghế êm ái, thả người xuống, nhắm mắt tiếp tục mơ màng.

Hơi nước bốc lên cuồn cuộn trong chậu gỗ lớn khiến gian bếp mù mịt như phòng tắm hơi. Tiếng răng rắc của gỗ giãn nở nghiến vào thanh đai bằng sắt. Bánh xà phòng mềm ra trong hơi nóng, tỏa mùi hăng hắc. Trên người Pelikan chỉ còn chiếc áo sơ-mi. Thay vì cởi nó ra luôn, ông vẫn đứng trên mặt sàn khô ráo, chờ đợi một lúc nữa để nước nguội bớt. Thoáng chốc nước đã đọng lại trên da ông từng giọt lớn. Sự lặng lẽ và ẩm ướt, một lần nữa, nhắc ông nhớ lại những đêm Hè đang thực sự tan biến khỏi cuộc đời mình. Chẳng bao lâu nữa, dù có trì níu thì may ra chỉ thêm được vài tuần, gã trai trẻ rồi cũng rời khỏi đây. Sẽ chẳng còn đẩy đưa run rủi nào để ai đó tin rằng ông là cần thiết cho họ.

Lớp vải sơ-mi lấp nhấp dính sát vào da. Các lỗ chân lông giãn nở. Hơi ấm thấm qua lớp da, lớp mỡ, xuyên qua các dải cơ, tiến thẳng vào nội tạng bên trong dễ dàng. Một lò xông hơi thật sự. Bất giác, trong làn hơi nước xanh đục ấy, người đầu bếp cúi nhìn cơ thể chính mình. Ông vẫn thế, béo mập. Nhưng làn da trong suốt thẳng căng và những vệt lông vàng hung khỏe khoắn ngày nào đã trở nên nhão mềm, ngả màu xám ngoét. Cánh tay, bả vai, vùng ngực vạm vỡ chảy xuống. Ở khuỷu tay, các tĩnh mạch chằng chịt. Sự ủ rũ thực sự của thể chất, bất khả phục hồi. Ngay cả một con thú như vậy trong rừng, cũng không thể khơi gợi ý định nhắm bắn của thợ săn. Họ sẽ để mặc nó vì sự vô ích của nó, Mắt nhắm nghiền, bám cả hai tay lên cái đai sắt nóng rực của bồn tắm, ông khóc trong lặng thinh.

Chợt ông ngẩng lên. Gã trai trẻ đến sau lưng ông từ bao giờ. Chẳng chút đoái hoài đến biểu hiện có phần bất thường của người đầu bếp, gã trai hơi nhoài người tới, thọc thẳng một cánh tay vào chậu nước tỏa khói:

“Ông ngại nước nóng à? Hay để tôi tắm trước nhé?”

“Cũng được.”

“Ông không phiền chứ. Người tôi đầy đất bẩn.”

“Không sao. Tôi đặt một nồi nước khác.”

Người đầu bếp lùi lại. Gương mặt ông sấp bóng ánh sáng nến. Vởi vẻ thoải mái của một kẻ luôn xem cơ thể và sự trần truồng của mình là một lẽ tự nhiên, gã trai tuột lớp quần áo lấm lem bùn đất. Khi kéo chiếc sơ-mi qua đầu, hơi mạnh tay, gã làm bắn ra một hạt cúc gỗ. Hạt cúc lăn đến, nằm dưới lòng chân Pelikan. Ông không nhúc nhích. Gã trai nhìn quanh một lượt:

“Bàn chải tắm đâu nhỉ?”

Khi ông quay trở lại, gã trai đã ở bên trong chậu gỗ, nửa nằm nửa ngồi. Nước dâng sát thành chậu gỗ. Không đốm nước nào văng ra ngoài. Trên bề mặt phẳng lặng của thứ chất lỏng ấm áp, đôi vai nhô lên. Những đường lượn sắc bén của xương trán, chóp mũi, xương hàm hiện mồn một, trong dải sáng hổ phách hắt lên từ mặt nước im lìm. Nét nhâng nháo quen thuộc được gột rửa, nhường chỗ cho vẻ điềm đạm lưu trú trong các hốc tối mà ánh nến không chạm đến. Một đầu tượng với nụ cười khơi gợi mơ hồ, thư thái tận hưởng hàm nghĩa thanh xuân toàn bích mà nó được trao tặng. Như vài lần trước kia, ông lại đứng sững, chết lặng với hình ảnh không thể tin nổi đang ở ngay trước mặt. Ông không tin vào Thượng đế, từ trẻ. Đến giờ vẫn thế. Bởi nếu có đấng tối cao, thì hẳn đó là kẻ mù loà hay một kẻ thích chơi khăm khi đặt tất cả những gì rỗng tuếch nhất vào một hình ảnh đẹp đễ nhất, như cái tạo vật đang hiển hiện trước mắt này.

Thính nhạy như mọi con vật non trẻ, gã trai trẻ mở choàng mắt:

“Ông kỳ lưng cho tôi chứ?”

Ông quỳ xuống bên chậu tắm, chà sát tấm lưng dẻo dai thuôn mảnh. Thỉnh thoảng gã nghiêng vai, lần lượt nhấc lên từng cánh tay cho ông tiện việc kỳ cọ. Những lọn tóc xoăn thấm ướt, duỗi ra, bết vào cổ tựa đám rong nâu nhạt. Hít một hơi dài, gã bắt đầu nói, liên tục, đều đều, gần như độc thoại, kể về mấy ngày qua ở trong rừng, về phát hiện đầy hứng thú khi tìm thấy mấy lều săn được ngụy trang rất khéo cùng con đường tắt hiểm hóc của bọn săn trộm, về việc gã và ông có thể sử dụng mấy cái lều và con đường ấy nếu cần lẩn náu một thời gian, chờ khi lệnh kiểm soát các xe khách chạy ngang qua vùng không còn hiệu lực nữa…

Pelikan đột ngột cắt ngang:

“Tôi sẽ không rời khỏi nơi đây!”

Ông thả bàn tay, để cho cái bàn chải và mảnh vải kỳ lưng chìm xuống. Như một thủy quái giấu mình trong làn nước quá đủ, gã trai trẻ chồm lên. Các đầu móng gặm nhấm nham nhở bấu chặt vào lớp da tái xám của người đầu bếp:

“Ông không được làm như thế. Tôi ở đây đủ lâu với ông, là bởi vì tôi tin rằng ông sẽ giúp tôi.”

“Không phải cậu thấy rằng tôi đặc biệt, như cậu từng nói vài lần trước kia?”

“Nếu ông đồng ý với những gì tôi đề nghị, thì mới là như thế!” Đám tóc dính bết lắc mạnh “Còn không, ông chỉ là một kẻ ghê tởm. Ai mà không biết ông chỉ là một tên điên chưa lộ mặt, một kẻ thất bại…”

Pelikan gỡ hai bàn tay trên vai mình, loạng choạng đứng lên. Ông chẳng oán thù gì những điều gã trai trẻ vừa thốt ra. Ông chưa bao giờ đòi hỏi được nhìn nhận tốt hơn những gì ông nghĩ về chính mình. Chỉ là về căn bản, trong vài tình huống liên quan đến bản thân, ông dễ bị tổn thương, dễ bị tấn công và trở nên bối rối như một con thú loạn trí nửa vời. Một lần nữa, cái bóng đồ sộ của ông đổ xuống thân hình nhô lên mặt nước của gã trai trẻ. Đầu tượng á thần đẹp đẽ. Kẻ lang thang rình rập vận may. Kẻ liều mạng, tham lam và bất chấp. Kẻ buộc phải mơ mộng vì chẳng nắm giữ chút gì giá trị trong đời.

Bỗng dưng, tái hiện trong Pelikan cái ngày ông bơi trong dòng sông lạnh giá mùa Xuân và bị nước cuốn đi. Đám rong xanh dập dềnh dưới mắt. Sắc bạc loang loáng của những vân nước trôi qua. Màu trắng phản chiếu từ chính làn da bám vào các vân nước vô số. Đó là thời khắc ông hiểu rõ nhất, ông chỉ có một mình. Không ai cất lên âm thanh khích lệ cứu vớt. Không một hứa hẹn trên bờ kêu gọi trở về. Chỉ duy nhất lòng ham sống của tuổi trẻ dẫn ông sang bãi bùn sống sót. Nhưng, lẽ ra, ông nên để mặc cho dòng lũ Xuân cuốn trôi đi cái ngày hôm ấy thì hơn. Bởi mấy mươi năm sau sự kiện âm thầm đó, vẫn không ai nghe thấy tiếng ông. Và cũng không ai lên tiếng đáp trả ông. Thế giới ông sống rốt cuộc chỉ là cánh rừng câm nín bất tận, với đám đông những người lẫn trong đám đông những cây.

Điềm tĩnh như trong giấc mơ, Pelikan vươn dài cánh tay xuyên qua mặt nước xám nhờ. Các ngón tay lùa sâu vào đám rong nâu mềm mại, tóm lấy chúng. Tiếng cười lục bục trong làn nước ấm. Từng ngón tay quấn quyện vào từng lọn rong, ghì giữ. Tiếng cười đột nhiên im bặt. Khối xương sọ tìm cách ngoi lên khỏi lớp chất lỏng đùa nghịch. Nhưng bàn tay khỏe mạnh ghì xuống, chống lại lực đẩy từ dưới dội lên. Hai cánh tay hoảng hốt bung khỏi mặt nước, quờ quạng hướng về phía Pelikan nhưng vô ích nên đành bấu chặt lấy thành chậu gỗ. Kẻ bị dìm trong nước ưỡn cong lưng. Cả cơ thể hắn quẫy mạnh, liên tục. Nước văng tung toé khắp mặt sàn. Ghì tựa bằng cả hai chân, gã trai trẻ tìm cách nẩy thân hình lên. Nhưng Pelikan vẫn trờ lỳ như đá tảng. Đôi mắt ông phản chiếu các đốm nến bất động, không chút chập chờn xao xuyến. Giữ chặt mái tóc đang quẫy bằng đôi tay khỏe khoắn từng khống chế và xẻ thịt muông thú, ông chỉ cần bảo đảm rằng mái đầu này trong vài phút không thể nhấc lên khỏi mặt nước xám nhờ. Còn cái cơ thể đang vùng quẫy kia, cái tiếng van xin méo mó đang cất lên kia tất thảy đều vọng đến từ nơi chốn khác, nơi ông không thuộc về.

Mọi tiếng động ngưng bặt. Mọi cử động ngừng bặt. Mặt nước phẳng lặng. Pelikan buông lỏng lần lượt từng ngón tay, đứng thẳng lên. Dư âm đám tóc nhờm nhám vẫn quyến luyến trong lòng tay ướt sũng. Ông chậm rãi đưa mắt nhìn xuống. Vầng trán trơn mượt chầm chậm nổi lên mặt nước, dẫn theo đường nét hoàn hảo của đầu tượng thanh xuân. Chỉ có điều, lúc này, tất cả đều sắc nét hơn bởi lớp da co lại, biểu hiện không thể nhầm lẫn của người đã chết. Nếu còn chút gì liên quan đến sự sống mà nó vừa rời bỏ, thì đó là đôi mắt mở to, chưa thôi sửng sốt trước sự kiện ập đến đột nhiên. Nét co lại của môi trên biến khuôn miệng thành nụ cười, để lộ mấy chiếc răng cửa óng ánh. Một nụ cười vừa kinh ngạc, vừa nhạo báng tình thế mỉa mai mình đã sa vào.

Pelikan bình thản ngắm nhìn gương mặt giễu cợt. Gương mặt ông từng hy vọng gắn bó. Gương mặt ông từng tin có thể nhìn thấy mỗi ngày, dung dưỡng nó, thỏa mãn các đòi hỏi vô độ của nó, chừng nào ông còn hít thở. Giờ thì ông sẽ chỉ còn nhớ đến nó trong nụ cười ngưng đọng, cũng như sự tĩnh lặng thẳm sâu mà một cách vô tình, nó đã tạo nên, thay cho lời tiên báo trầm ngâm về quãng ngày đang chờ ông phía trước.

Bỗng dưng ông thấy nhẹ nhõm khôn tả. Chẳng mấy khó khăn, ông nhấc cơ thể vẫn còn nóng ấm ra khỏi chậu gỗ, mang nó ra ngoài, về phía chái kho, như xưa nay ông vẫn chuyển dời các súc củi lớn giữa sân sau và bếp. Sau khi mặc lại quần áo và đặt cơ thể nằm sấp cạnh bên lối đi theo hình ảnh mà ông tự phác thảo về một cú ngã tình cờ, Pelikan quay trở về nơi chốn của mình, cài chốt cửa. Ông lau khô thân hình ướt át, lấy tấm vải lanh dày cất dưới tủ bếp, chùi sạch ngóc ngách mặt sàn nước loang lổ. Lúc tháo nút dưới đáy chậu tắm, ông tìm thấy hạt cúc gỗ. Ông mang nó đến bên ngọn nến. Một chiếc lá nhỏ khắc chìm, biểu tượng tự hào của sinh viên trường luật, như gã trai trẻ từng khoe. Ông nắm hạt cúc trong lòng tay thêm một lúc rồi ném vào bếp lò lúc này chỉ còn các đầu củi âm ỉ.

Pelikan cởi áo, vào giường nằm. Giấc ngủ không kéo đến ngay. Ông trở mình liên tục, chờ đợi hơi ấm từ chính cơ thể mình. Từ đáy sâu trí nhớ, trồi lên ký ức về tiếng gió ru khi ông còn là đứa bé. Âm thanh rõ mồn một, như vừa hôm qua. Vòng tròn đang khép lại. Chẳng bao lâu nữa, ông sẽ phải mở hé cánh cửa sổ, chỉ để nghe thấy tiếng gió lướt qua những đỉnh cây bên kia rừng thông, luồn trong tán lá dày đặc của những ngọn sồi, dỗ cho giấc ngủ tìm đến. Hết Hè, sang Thu lạnh, các trận mưa nhỏ dày hạt sẽ rả rích suốt đêm, lăn qua các mái ngói, chảy xuống dọc theo gờ kính của ô cửa ám bụi cạnh giường ông nằm. Rồi mùa Đông dài dặc sẽ tới, trong một hình ảnh đơn giản nhưng nặng nề là lớp màu trắng cứ mỗi ngày một dày lên, trên những cánh đồng hoang vắng, trên hàng trăm cây số vuông truông hồ và bãi lầy, trên những doi cát ven biển, trên mặt đại dương tối om. Dày lên mãi, cho đến khi che khuất cả đường chân trời. Ông sẽ nhìn hết thảy các khung cảnh đó, sẽ tìm cách biến những tiếng động mơ hồ tình cờ ngoài kia thành một hơi thở khò khè, một câu nói mớ mắc kẹt trong vòm họng, một tiếng cười ngắn ngủi hài lòng khi mở mắt trong đêm.

Bao giờ mà không thế, các âm thanh dù vô nghĩa nhất vẫn gợi nên chút an ủi dịu êm về sự hiện diện con người. Cho đến khi các âm thanh lịm tắt. Còn gì khác ngoài việc quay trở về đối diện với sự thật của thời gian sống lụi tàn.

Standard
Văn

[Truyện ngắn] Phía không người

Hai giờ sáng, Lịnh phóng chiếc Cup lao vào một vùng đen kịt của con hẻm vắng. Chỉ chưa đầy một phút rồ ga vút qua những cung đướng tối sáng, Lịnh đã ra đến đường lớn. Không gian lặng như một giấc mơ sâu. Chiếc xe của Lịnh như một con thú hoang khinh nhờn cái tĩnh lặng của đêm, và Lịnh tưởng như mình một kẻ ngoại lai với cái nhịp sống cố hữu của Sài Gòn. Dù rất thèm một cơn chợp mắt, Lịnh vẫn lạnh lùng lao đi với tốc độ vô cùng dứt khoát, mà kì thực Lịnh vẫn không biết mình sẽ phải đi đâu. Lịnh chỉ biết mình cần phải chạy đi đâu đó, đâu cũng được, phải chạy, chạy thật nhanh. Lịnh muốn gió đêm thổi bay những ý nghĩ rối rắm trong đầu mình và làm lắng xuống những xáo trộn trong tim mình. Lịnh bỗng nhận ra mình đang đi trên một đoạn đường quen thuộc, đoạn đường mà không ít lần trong cơn say hắn vẫn tìm về được. Con đường cũ ôm Lịnh vào lòng, Lịnh giảm tốc để hít một hơi sâu.
Trời đêm không trăng cũng không sao, tự bao giờ Lịnh không tìm kiếm những ngôi sao xa xôi kia nữa, hắn ngỡ đèn đường mới chính là những ánh sao. Mà trong một cự li gần như thế, đèn đường có đủ cốt cách để làm một ánh sao màu nhiệm cho Lịnh. Đèn phố với muôn vàn màu sắc khác nhau, chất chứa bao nhiêu cái hào nhoáng và xa hoa của chốn thị thành; và nếu bỏ qua sự thiếu tự nhiên, nó thật là một ánh sao lung linh huyền ảo. Con đường này không chỉ có một ánh đèn, mà một dãy những ngọn đèn lưng chừng nép mình dưới những tán me xuề xoà, những tán me một đôi lần lao xao khi gió thổi như thầm thì một điều gì rất riêng với nhau. Trong cái xa xăm dằng dặc của con đường trải dài những vệt sáng mơ hồ, Lịnh thấy chính mình đang đi giữa một cơn mơ tươi nguyên màu rêu nõn. Đẹp làm sao là một Sài Gòn không gắt gao nắng trưa, không tấp nập người xe và khói bụi.
Tấp vào một quán cóc nhỏ ven đường, gọi một li cafe, và rít một hơi sâu khói thuốc, Lịnh bắt đầu giải phẫu kí ức cùa mình.
Có tiếng đập mạnh cửa phòng. Lịnh đang loay hoay đánh máy bèn vội chạy ra. Lịnh mở cửa, và N. ngã ngay vào người Lịnh. Vô tình hít phải hơi thở đầy mùi rượu của N., Lịnh nhăn mặt “Sao anh mò được về nhà hay vậy?” và chẳng chờ đợi một sự trả lời nào. Lịnh lê anh vào, để anh nằm yên trên giường, và trở lại với công việc của mình, cái đoạn văn mà Lịnh đang viết dở. Lịnh viết kịch bản phim truyền hình. Thường là những bộ phim về các đề tài xã hội rất thông thường, những bộ phim giải trí mà người ta xem, theo dõi từng tập nhưng một thời gian sau sẽ chẳng nhớ nữa, những bộ phim mà có người vẫn gọi đó là phim thị trường. Lịnh cứ viết như thế đã nhiều lần để nhận một khoản tiền kha khá từ việc bán kịch bản. Nhưng Lịnh không phải là một kẻ bán chữ kiếm tiền, Lịnh đam mê viết lách, và hắn vẫn luôn ấp ủ một hoài bão lớn. Lịnh muốn viết một tác phẩm đẹp như hoa, trong từng chi tiết, một tác phẩm mà nội dung của nó phản ánh chân thực đến mức rờ thấy được cả những đớn đau và hạnh phúc, một tác phẩm mà giá trị của nó âm vang và lan rộng ra mọi ngõ ngách của cuộc đời, một tác phẩm mà ngày nay, ngày sau và ngày sau nữa, người ta vẫn nói về nó như một biểu tượng của lao động nghệ thuật chân chính và hoàn mỹ. Nhưng để có được tác phẩm như vậy, Lịnh biết mình sẽ phải đầu tư cả cuộc đời mình vào đó, và Lịnh không thể sống được ở đất Sài Gòn này chỉ với một niềm đam mê như thế. Lịnh phải viết nhiều tác phẩm khác nhau, thậm chí làm thêm nhiều công việc vặt khác. Lịnh viết những trang văn như thức ăn nhanh, nhưng Lịnh không lấy nó làm một sự dằn vặt lương tâm. Lịnh biết đây là bước cần phải có cho một bước tiến xa hơn, một yêu cầu tất yếu để hiện thực hóa một hoài bão lớn lao. Lịnh phải lấy ngắn nuôi dài, tích tiểu thành đại, bỏ qua những cái nhỏ nhặt để đạt được cái vĩ đại. May mắn là Lịnh có tài, cái tài của Lịnh khiến cho ngay cả những cái tủn mủn Lịnh viết ra cũng đủ đưa hắn lên một vị trí nhất định trong nghề nghiệp. Nhiều người ngưỡng mộ Lịnh, yêu quý, cậy nhờ lấy cái tài của hắn. Nhưng cũng có lắm kẻ ganh ghét Lịnh, châm chọt Lịnh, và tìm cách đẩy hắn xuống khi có cơ hội.
Tối nay, sau khi Lịnh đã đi làm về từ lâu, đã tự nấu bữa tối một mình và đang cật lực viết bài để nộp cho tòa soạn vào sớm mai thì mới thấy N. về tới nhà. N. sống cùng Lịnh trong một khu chung cư. N. làm việc cho một công ty nước ngoài và anh ôm cái mộng mà lắm thằng sinh viên kinh tế ra trường vẫn giành ôm lấy, mở một công ty riêng và làm giàu từ nó. Dạo gần đây N. hay về nhà trễ, có đêm không về. Có những khi về thì người say bí tỉ và nồng mùi rượu. Đôi khi N. tỉnh táo sau một đêm say, Lịnh vờ hỏi, nhưng N. chỉ im lặng hoặc bảo “chỉ là đi uống với đồng nghiệp”. Lịnh biết anh đang có một tâm sự riêng khó nói, và vì sợ anh nghĩ rằng mình quan tâm thái quá tới anh nên Lịnh không hỏi gì thêm. Đêm nay N. bỗng về nhà sau hai ngày biến mất, nỗi băn khoăn của Lịnh cũng theo trở lại, khiến Lịnh không tập trung vào công việc được. Loay hoay một lúc vẫn không ra ý tưởng viết tiếp, Lịnh lé mắt sang nhìn anh. Anh nhắm nghiền mắt. Và Lịnh không ngăn mình cứ nhìn anh như thế. Một phút, hai phút, rồi mấy phút trôi qua, Lịnh tưởng mình có thể ngắm anh mãi thế này mà không hề chán. Thật lạ là Lịnh luôn thấy N. đẹp, nhất là trong giấc ngủ. Khi ngủ, cái vẻ rắn rỏi lạnh lùng ban ngày như biến đâu mất, trên gương mặt ấy chỉ còn là một nét đáng yêu và trong trẻo đến hồn nhiên. Đã không ít lần Lịnh lén mở mắt nhìn N. đang say ngủ, và Lịnh có cái cảm giác run run vụng trộm của một con yêu tinh lỡ phạm vào điều cấm kị là nhìn ngắm một thiên thần của chúa. Ngay lúc này, khi người N. nồng nặc hơi men và gương mặt mệt mỏi phảng phất mưa nắng và khói bụi Sài Gòn, Lịnh vẫn thấy N. thật đẹp. Căn nhà nhỏ du dương tiếng nhạc hòa tấu từ chiếc máy hát cũ mà Lịnh rất yêu, xen vào giữa âm thanh trong trẻo ấy là tiếng thở đều đều của N. Không gian thật êm nhẹ và bình yên.
Sự lãng mạn này sẽ còn tiếp diễn nếu N. không bất chợt nhoài người ra thành giường và ọe một bãi vào cái giỏ mây đựng giấy vụn của Lịnh. Mọi thứ diễn ra thật nhanh khiến Lịnh chẳng kịp trở tay. Lịnh bịt mũi và thu dọn bãi chiến trường, lòng thầm cảm ơn vì cái con người ấy không ọe lên cái giường mà Lịnh vẫn nằm. Lịnh lấy khăn nhúng nước ấm, lau nhẹ lên gương mặt của N, lau dọc sống mũi thon cao, lau thật chậm bờ môi. Lịnh thấy trong lòng mình trỗi dậy cái ham muốn quen thuộc mỗi khi gần N., Lịnh muốn hôn N, nếu nó không được là một nụ hôn sâu và nồng cháy, thì chỉ cần là một cái phớt nhẹ của xúc giác, cũng cho Lịnh một sự mãn nguyện rồi. Cái ham muốn ấy đã không ít lần gặm nhấm tinh thần của Lịnh, nó khiến Lịnh thấy mình thật tầm thường và thật vật chất, nó đôi khi khiến Lịnh run lên bần bật và thở gấp, nhưng lòng tự trọng và lí trí luôn níu giữ Lịnh lại ở cái ranh giới mỏng manh ấy. Và Lịnh vượt qua được nó. Nhưng hôm nay, nó lại trỗi dậy trong Lịnh, ngay khi N. đang say, đang rất say. N. đang rất say, vậy tại sao Lịnh không thử chạm vào đôi môi ấy nhỉ? Không rõ vô thức hay cố tình, Lịnh đưa tay chạm bờ môi N. Và dường như có một nguồn lực vô hình điều khiển, Lịnh từ từ đưa sát mặt mình lại và hôn lên bờ trán rộng rãi của N. Nhưng khi cú va chạm xúc giác diễn ra, Lịnh mở bừng mắt, sợ hãi đẩy mình ra xa. N. vẫn đang nhắm nghiền mắt nhưng Lịnh thấy như chính mình vừa làm một điều gì tội lỗi. Lịnh bần thần một lúc, rồi hắn vò đầu bứt tai. Lịnh nhìn gương mặt vẫn đang ngây thơ say ngủ kia và thấy mình bối rối ghê gớm. Một nỗi bi quan không tên xâm chiếm tâm hồn Lịnh. Lịnh không thể chịu đựng được một phút giây nào nữa. Hắn phải làm gì đó, phải đi đâu đó.
Lịnh với tay lấy chìa khóa xe, mở cửa và lao vào đêm tối…
Standard
Sống

[Về Sài Gòn] Đêm

Đêm Sài Gòn mang đến cho những người thức khuya một trải nghiệm sống khác hẳn ban ngày: ánh đèn điện nhiều màu sắc thay cho ánh mặt trời, không khí mát mẻ hơn, đường vắng và yên tĩnh hơn.
Và điều đặc biệt đó là con người. Ban ngày, giữa những ồn ào , vội vã và chói nắng, tôi thấy những cá thể xung quanh mình đều vô ý kết thành một cơn bão bụi vàng vọt, sánh đặc và tối màu như một loại keo gần hết hạn sử dụng. Cá tính mỗi người vì thế trở thành một điều rất khó nắm bắt. Khi đêm xuống, những nhiễu loạn dần lắng xuống, tập hợp kia giảm quá nửa quy mô và phân tách thành nhiều nhánh nhỏ.
Những ai thức đến tận sau 2h sáng, theo cá nhân tôi, lúc này trở thành những điển hình cho đời sống Sài Gòn về đêm. Một vài trong số họ, tôi có dịp quan sát:
Một anh Việt Kiều đẹp trai nói giọng lơ lớ, áo thun quần jean hay vào bar gọi mỗi Gin Tonic, uống đâu chừng ba li, vừa uống vừa hút thuốc, thì đứng dậy trả tiền rồi đi. Chẳng biết từ đâ đến, cũng chẳng biết đi đâu, chẳng thấy đi với ai cũng chẳng thấy muốn nói chuyện với ai. Một vài cô gà đến ngồi cạnh, hai bên nói nói vài câu, chẳng hiểu nói gì mà các cô tự khắc đi chỗ khác.
Một chị gà lúc ấy cũng đã trên dưới 40, ăn mặc thanh lịch mỗi ngày lượn lờ quanh bàn bi-a để mồi chài mấy ông Tây già. Mà cuối cùng khách của chị lại đi với mấy cô trẻ hơn, lúc này chị lại mua bánh mì nóng của anh bán bánh mì dạo để nhai cho đỡ buồn miệng. Thỉnh thoảng vui miệng, chị lại kể bằng giọng Bắc chuyện ngày xưa chị đi khách ờ Singapore gặp thằng khách đẹp trai thích SM.
Hai mẹ con bán sin-gum. Cả hai đều đi chân đất cầm theo cái rổ. Bàn nào khách vừa rời đi là chạy ngay đến để hốt đồ ăn thừa. Con bé gái bán sin-gum rất lành nghề, nó nói tiếng Anh như một cái máy “Chewing gum, sir? Help me, I’m hungry” nhưng biết trưng ra gương mặt ngây thơ. Trong lúc ông khách loay hoay tìm bóp cho tiền, nó hốt cái điện thoại trên bàn bỏ vào rổ sin-gum, nhận tiền khách cho rồi chạy đi về phía mẹ nó ngồi trong một góc xa xa.
Thằng nhóc nuốt rắn và múa lửa. Nó tầm mười mấy tuổi. Mỗi lần bắt đầu diễn là nó hét lên một tiếng. Sau đó nó ngậm xăng rồi phun về phía cây đuốc nhỏ, làm rực ráng nguyên một góc đường. Rồi nó lôi từ trong túi ra một cái chai nhựa, bên trong có con rắn lục màu xanh lá. Nó cầm đầu con rắn nhét vào mũi, đẩy sâu vào sau đó lấy tay móc từ trong miệng của mình ra. Cứ thế một tay cầm đầu, một tay cầm đuôi nó kéo qua kéo lại con rắn trong vòm họng của mình như người ta kéo đàn vậy. Con rắn sau lại lờ đờ bị nhét vào chai. Một tiết mục đó nó diễn một đêm cũng cả chục lần ở nhiều nơi khác nhau.
Anh DJ bụng bự chơi nhạc bình thường. Anh hay chơi mấy bài I love it (Icona Pop), Hit the road, Jack! (Sweet sisters), Snow (Red hot chili peppers), Give it up (KC & the Sunshine band)… Đặc biệt, mỗi lần anh mở bản YMCA (Village people) mà có khách Tây trẻ là anh thường giơ hay tay tạo thành chữ Y – M – C – A. Tuy vậy, không phải khách nào cũng hiểu anh đang làm gì.
Một chị làm nhân viên bán hàng ở Family Mart. Trông chị lúc nào cũng có vẻ mệt mỏi với vài ba cọng tóc rớt xuống trước trán. Tôi hỏi “Sao chị không ngồi nghỉ mà đứng hoài vậy?”. “Có camera cưng ơi, quản lí mà thấy ngồi là trừ tiền thưởng”.
Một ông bảo vệ già giữ cửa hàng thời trang trên đường Lê Lợi. Mỗi khi thức không nổi, ông ta lại nằm chắn ngang cái cửa kính để chợp mắt như kiểu “muốn vào phải bước qua xác ta”.
Nói chung là, còn nhiều nữa… mà rơi rụng hết rồi.
Standard