Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 16

Đơn vị tông (the tone-unit)

Tiếng Anh không phải là ngôn ngữ có thanh điệu (tone language). Do đó, cách phân tích chức năng và sự phân bố của tông trong Tiếng Anh khác với trong những ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Việt. Trong những ngôn ngữ có thanh điệu, người ta phân tích tông dựa trên việc khảo cứu từng đơn vị của ngữ âm học là âm tiết, xem xét mỗi âm tiết như là một đối tượng có thể biến đổi một cách độc lập về thanh điệu để mang nghĩa khác. Trong tiếng Anh, số lượng từ vựng 1 âm tiết có thể biến đổi sắc thái nghĩa khi biến đổi tông của chúng rất ít, chẳng hạn như từ ‘yes’ và ‘no’ ở chương 15. Việc phân tích tông trong tiếng Anh, theo đó, vượt lên trên phạm vi một âm tiết, do đó cần một đơn vị khác cho tông. Đó là đơn vị tông (tone-unit).

Một đơn vị tông chứa ít nhất 1 âm tiết. Cách định nghĩa khái niệm đơn vị tông tốt nhất là thông qua ví dụ minh họa. (vì trong khi nói, intonation biểu thị dấu câu, nên trong những ví dụ được ký hiệu về tông sau không cần phải đưa thêm dấu câu. Những âm tiết có chứa tông sẽ được gạch chân.):

is it ′you

Trong ví dụ trên, âm tiết thứ ba mạnh hơn hai âm tiết còn lại vì có chứa một tông: rising tone. Hai âm tiết đầu thường nhẹ hơn và được cho là có cao độ không đổi. Vậy tại sao chúng ta không nói rằng hai âm tiết ‘is’ và ‘it’ chứa tông ngang, level tone? Bởi vì nếu nói rằng các âm tiết trên chứa tông ngang, thì các âm tiết ấy sẽ cũng được nhấn mạnh như âm tiết ‘you’.

Chẳng hạn trong tiếng Trung Phổ Thông, từ mäma chứa hai âm tiết, âm tiết đầu mạnh, có thanh ngang; âm tiết sau nhẹ, vô thanh. Nếu âm tiết sau cũng chứa thanh ngang, nghĩa là nó sẽ mạnh như âm đầu, thì nó sẽ bị biến đổi nghĩa. Còn trong tiếng Anh, trong ví dụ trên, nếu nhấn cả ‘is’ và ‘it’, câu nói đó sẽ không tự nhiên mà như là đang cố gắng nói chậm và to ra cho một người lãng tai hiểu vậy.

Âm tiết có chứa tông gọi là âm tiết tông (tonic syllable). Những âm tiết chứa tông được nhấn mạnh hơn âm tiết không chứa tông. Một âm tiết tông không chỉ mang tông, mà nó còn được nhấn mạnh bằng trường độ, cường độ so với các âm tiết không mang tông trong câu nói. Sự nhấn mạnh này được gọi là nhấn tông (tonic stress). Một số người gọi dùng thuật ngữ nucleus và nuclear stress thay vì là tonic syllable và tonic stress.

Ví dụ trên có thể được mở rộng như sau:

John is it ′you

Fall-rise tone thường gặp khi gọi tên ai đó. Nếu có một nhịp nghỉ giữa ‘John’ và ‘is it you’ thì có 2 utterances ở đây. Nhưng chúng ta sẽ xem xét nó như một utterance.

Và utterance này được chia làm hai đơn vị tông: ‘john’ và ‘is it you’.

Có thể thấy rằng đơn vị tông có mối quan hệ thứ bậc (hierarchical relationship) với các đơn vị ngữ âm khác: một diễn ngôn (speech) bao gồm một hoặc nhiều lời nói (utterances), mỗi một lời nói gồm một hoặc nhiều đơn vị tông (tone-unit), mỗi một đơn vị tông bao gồm một hoặc nhiều feet, mỗi một foot bao gồm một hoặc nhiều âm tiết (syllables), mỗi một âm tiết bao gồm một hoặc nhiều âm vị (phonemes).

Cấu trúc của đơn vị tông:

Ở chương trước, ta chỉ mới đề cập đến một bộ phận cấu thành của đơn vị tông là âm tiết tông. Hầu như mọi đơn vị tông đều thuộc dạng đơn (simple), những dạng phức (compound) không được trình bày ở chương này. Mỗ đơn vị tông dạng đơn (simple tone-unit) luôn có một và chỉ một âm tiết tông; nói cách khác, âm tiết tông là bộ phận không thể thiếu và duy nhất của một đơn vị tông. (cũng giống như vai trò của nguyên âm trong âm tiết vậy). Ngoài âm tiết tông, đơn vị tông còn chứa:

The head – phần đầu đơn vị tông:

Đây là một utterance chỉ gồm 1 âm tiết tông:

those

Utterance sau gồm 1 đơn vị tông, và trong đó có 1 âm tiết tông như trên:

‘give me those

Toàn bộ phần đứng trước âm tiết tông trong đơn vị tông được xem là phần đầu (head). Mỗi một head được bắt đầu bằng một âm tiết nhấn (stressed syllable), như âm tiết ‘give’ ở trên. Head là bộ phận kéo dài từ âm tiết nhấn đầu tiên cho đến âm tiết tông. Nếu không có âm tiết nhấn đầu thì không có head.

Trong ví dụ sau, head bao gồm 5 âm tiết đầu:

‘Bill ‘called to ‘give me these

Còn ví dụ sau là một utterance gồm một đơn vị tông, có chứa 1 âm tiết tông nhưng không có head:

in an hour

Trong ví dụ này, hai âm tiết đầu không được gọi là head, mà chúng được gọi là pre-head (phần trước đầu).

The Pre-head, phần trước đầu của đơn vị tông:

Pre-head bao gồm toàn bộ những âm tiết không nhấn trong đơn vị tông đứng trước âm tiết nhấn đầu tiên, tức đứng trước head. Theo đó, phần pre-heads có thể bắt gặp ở 2 trường hợp sau:

i) Khi không có head (không có âm tiết nhấn trước âm tiết tông): như ví dụ ‘in an hour’ ở trên.

ii) Khi có head, như trong ví dụ:

in a ‘little ‘less than an hour

The tail – phần đuôi đơn vị tông:

Trong một đơn vị tông, thường theo sau âm tiết tông có một số âm tiết khác nữa. Toàn bộ những âm tiết từ âm tiết tông đến hết đơn vị tông được gọi là tail, tức phần đuôi của đơn vị tông. Những ví dụ sau sẽ cho thấy điều đó:

look at them

what did you say

both of them were here

Khi cần thiết phải nhấn một âm tiết thuộc phần đuôi, chúng ta phải dùng một ký hiệu đặc biệt là dấu chấm • vì những lí do sẽ được trình bày sau. Theo đó những ví dụ trên sẽ được phiên mã lại như sau:

look at them

what did you ·say

both of them were ·here

Như vậy, các bộ phận của một đơn vị tông có thể được mô tả như sau:

(pre-head) (head) tonic syllable (tail)

Hay

(PH) (H) TS (T)

Những bộ phận trong ngoặc là có thể có hoặc không có. Để minh họa rõ hơn, chúng ta cùng phiên mã một đoạn thoại dài gồm nhiều đơn vị tông sau. Để tách bạch ranh giới giữa các đơn vị tông, tức là kết thúc một đơn vị tông này và bắt đầu một đơn vị tông khác, người ta đôi khi có thể dùng một nhịp nghỉ, đôi khi không. Khi phiên mã, ranh giới giữa hai đơn vị tông sẽ là đường dọc kép (||) nếu có nhịp nghỉ, và sẽ là đường dọc đơn (|) nếu không có nhịp nghỉ.

|| and then ‘nearer to the  ̬ front || on the left | theres a ‘bit of forest | ‘coming ‘down to the waterside || and then a ‘bit of a bay ||

Theo đó, cấu trúc của các đơn vị tông trong đoạn thoại trên được minh họa như sau:

|| PH H TS || PH TS | PH H TS T | H TS  T || PH H TS ||

Đoạn trên gồm 5 đơn vị tông. Đơn vị tông thứ ba có đầy đủ các bộ phận, trong đó từ ‘forest’ gồm 2 âm tiết, âm tiết đầu là âm tiết tông và âm tiết sau là đuôi.

Những trường hợp về cao độ trong đơn vị tông dạng đơn:

Ngữ điệu của một lời nói được tạo ra bởi các đơn vị tông của lời nói đó.

Mỗi một âm tiết tông trong đơn vị tông đều phải chứa một trong 5 tông đề cập đến ở chương trước (rise, fall, rise-fall, fall-rise hoặc level). Nếu âm tiết tông là âm tiết cuối, tông nghe thấy sẽ không khác gì với một đơn vị tông chỉ gồm 1 âm tiết. Chẳng hạn, âm tiết tông ‘here’ trong đơn vị tông có phần đầu sau nghe cũng giống như thể khi nó là âm tiết tông của một đơn vị tông chỉ gồm một âm tiết:

here                                             ‘shall we ‘sit here 

Tuy nhiên, nếu có những âm tiết khác theo sau âm tiết tông, tức là nếu đơn vị tông có phần đuôi, chúng ta sẽ thấy sự chuyển hướng của cao độ trong tông không được đầy đủ trong âm tiết tông. Nếu phần đuôi theo sau một âm tiết tông rising tone, những âm tiết thuộc phần đuôi sẽ tiếp tục nâng lên về cao độ, tức người nói sẽ tiếp tục lên tông sau âm tiết tông rising tone.

Chẳng hạn, âm tiết ‘what’ trong đơn vị tông sau có rising tone, khiến cho phần đuôi theo sau nó cũng đi lên về cao độ:

what did you say

Tương tự như vậy, ta sẽ thấy trường hợp âm tiết tông falling tone khi có phần đuôi cũng sẽ khiến phần đuôi đi xuống về cao độ:

why did you go

Vì level tone thường không xuất hiện trong giao tiếp thông tục thông thường, nên chúng ta không khảo cứu về nó. Đối với các tông rise-fall và fall-rise, chúng ta sẽ nói đến trong chương sau.

 

 

 

 

 

Advertisements
Standard

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s