Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 17

Trong chương trước chúng ta đã nói về cách biến đổi cao độ trong những phần đuôi theo sau âm tiết tông trong trường hợp âm tiết tông là rising tone và falling tone. Tiếp sau đây chúng ta sẽ nói về trường hợp âm tiết tông là fall-rise và rise-fall.

Phần đuôi của tông fall-rise và tông rise-fall

Sự nối dài của tông từ âm tiết tông sang đuôi ở những trường hợp fall-rise tone và rise-fall tone khá phức tạp. Chẳng hạn, khi thêm vào đơn vị tông chỉ có một âm tiết sau:

 ̬ some

một phần đuôi là 1 âm tiết nữa, thành:

 ̬ some ·men

thì tông fall-rise này sẽ được phân bố cho hai âm tiết: phần fall rơi vào âm tiết ‘some’ và phần rise rơi vào âm tiết ‘men’. Trong trường hợp này, khi giữa âm tiết thứ nhất và âm tiết thứ hai không có một phụ âm vô thanh chen giữa gây ra nhịp ngắt của tông thì kết quả thu được là một sự chuyển tông diễn ra liên tiếp tương tự như ở đơn vị tông một âm tiết (\/).

 ̬ some ·chair

Còn trong trường hợp giữa hai âm tiết có chèn một phụ âm vô thanh, khiến cho tông bị ngắt quãng. (\ /)

Tuy nhiên, nhiều người nói tiếng Anh hầu như cảm thấy sự chuyển tông trong trường hợp này không khác gì trong hai trường hợp trước. Sự tương đồng này giống với sự hợp vần mà người ta vẫn thấy như giữa từ ‘balloon’ với từ ‘moon’, và người ta gọi nó là tonal rhyme (sự hợp vần tông). Theo đó  ̬ some ·chair hợp vần tông với  ̬ some.

Khi đuôi có từ hai âm tiết trở lên, thì cũng tương tự như trên, phần fall của tông vẫn rơi vào âm tiết tông, còn phần rise sẽ rơi vào âm tiết nhấn cuối cùng ở phần đuôi. Tông sẽ vẫn giữ ở cao độ thấp khi rơi xuống ở âm tiết tông, cho đến khi gặp âm tiết được nhấn cuối cùng của phần đuôi thì sẽ được nâng lên đến khi kết thúc đơn vị tông. Nếu không có âm tiết nào được nhấn ở phần đuôi, phần rise sẽ rơi vào âm tiết cuối. Sau đây là một số ví dụ:

i) I  ̬ might  ·buy it

I  ̬ might have ·thought of ·buying it

ii)  ̬ most  of them

̬ most  of it was for them

 

Với tông rise-fall tone, chúng ta cũng thấy tương tự: phần rise rơi vào âm tiết tông, và phần fall được phân bố ở phần đuôi đơn vị tông.

 ̭ no  (/\)

 ̭ no one (/\)

 ̭ no sir (/ \)

Khi có nhiều hơn một âm tiết, âm tiết liền sau âm tiết tông sẽ luôn có cao độ cao hơn âm tiết tông và những âm tiết còn lại sau nó sẽ có cao độ thấp. Chẳng hạn:

 ̭ beautiful  (/ – _ )

 ̭ all of them went (/ – _ _ )

 ̭ thats a nice way to speak to your mo ther (/ – _ _ _ _ _ _ _ _)

Người nói không có lựa chọn nào khác cho sự chuyển tông của phần đuôi. Cao độ phần đuôi thế nào phụ thuộc vào tông được chọn cho âm tiết tông.

 

Phần đầu cao và thấp

Cao độ của phần đầu đơn vị tông có thể là high head, khi âm tiết nhấn ở đầu phần head có cao độ cao hơn cao độ của âm tiết tông. Chẳng hạn:

The ‘bus was late ( _ – – \ )

Is ‘that the end ( _ – – /)

Nó cũng có thể là low head, khi âm tiết nhấn của phần head có cao độ thấp hơn cao độ của âm tiết tông. Ký hiệu của nó là (‚). Chẳng hạn:

The ,bus was late ( _ _ _ \ )

Is ,that the end ( _ _ _ / )

Những âm tiết không nhấn theo sau âm tiết nhấn trong phần head sẽ tiếp nối cái cao độ của âm tiết nhấn. Trong những ví dụ sau, những âm tiết không nhấn ‘if it had’ có cao độ giống như cao độ của âm tiết nhấn ‘asked’.

We ‘asked if it had come ( _ – – – – \ )

We ,asked if it had come ( _ _ _ _ _ \ )

Nếu có nhiều hơn môt âm tiết nhấn ở phần head, sẽ có sự chuyển nhẹ về cao độ từ âm tiết nhấn đầu sang âm tiết nhấn kế, sao cho hướng đến cao độ khởi đầu của âm tiết tông. Chẳng hạn những ví dụ sau:

The ‘rain was ‘com ing ‘down ‘fairly hard ( _ ¯ ¯ –  – – _ _ \ )

Ta có thể thấy trog ví dụ trên cao độ trượt dần từ âm tiết nhấn đầu tiên tới cao độ mở đầu của âm tiết tông ‘hard’. Còn trong ví dụ sau, vì âm tiết tông bắt đầu bằng cao độ thấp, nên toàn bộ phần trước đều giữ nguyên cao độ thấp.

,Thats ,not the ,story you ,told in court ( _ _ _ _ _ _ _ _ / )

Tương tự, với low head theo sau là falling tone:

,I could have ,bought it for ,less than a pound ( _ _ _ –  – – ¯ ¯ ¯ \ )

Và high head theo sau là rising tone:

‘Will there be a’nother ‘train  later (¯ ¯ ¯ ¯ –  – _ /)

Hiển nhiên thực tế khi khảo cứu về intonation của những phần đầu nhiều âm tiết ta sẽ thấy chúng có rất nhiều biến thể. Nhưng trên đây là những quan sát phổ quát nhất.

Nhiều người cho rằng đường hướng cơ bản, thông thường nhất của mọi intonation là luôn bắt đầu từ một tông cao sao đó hạ dần xuyên suốt utterance. Đây gọi là declination. Quan điểm cho rằng declination là một đặc tính của mọi ngôn ngữ là một quan điểm khá nổi trội. Nhưng tốt hơn hết chúng ta nên xem xét quan điểm này thông qua các chứng cứ ngữ liệu quan sát được.

Hai ký hiệu ‘ và , được dùng nhiều trong cuốn sách này với những mục đích khác nhau. Khi nói về trọng âm (stress), ‘ dùng để chỉ trọng âm chính, và , dùng để chỉ trọng âm phụ. Khi nói về ngữ điệu (intonation), ‘ dùng để biểu thị high head trong đơn vị tông và , biểu thị low head. Miễn là chúng ta phân biệt rõ khía cạnh ngữ âm được nói đến là trọng âm hay ngữ điệu, những ký hiệu này sẽ không bị nhầm lẫn.

Về sự nhập nhằng giữa trọng âm và ngữ điệu, cần làm rõ điều sau. Khi xem xét lời nói ở cấp độ đơn vị tông, cái cần quan tâm không phải là sự khác biệt về nhấn mạnh giữa các âm tiết trong một từ riêng lẻ, mà là sự khác biệt về nhấn mạnh giữa các âm tiết nhấn với các âm tiết không nhấn trong một đơn vị tông.

Những vấn đề của phân tích hình thức ngữ điệu (form of intonation):

Xác định âm tiết tông:

Chúng ta đã thấy rằng một tông có thể kéo dài từ âm tiết tông sang phần đuôi của nó, do đó không dễ để xác định âm tiết tông. Mặt khác, một trong năm tông là level tone, vốn không có sự thay đổi về cao độ. Do đó, chỉ có thể nói trong những trường hợp như trên, âm tiết tông được xem là âm tiết nổi bật nhất về cường độ, trường độ.

Thêm nữa, đôi khi một số đơn vị tông có chứa đến 2 âm tiết tông, nghĩa là trường hợp tông rise-fall hoặc fall-rise được phân bổ vào 2 âm tiết liền nhau:

(i) I’ve seen  him 

Có quan điểm cho là trường hợp trên vốn dĩ là:

(ii) I’ve  ̬ seen him 

Nhưng thực sự chúng khác nhau. Trước hết âm tiết ‘him’ ở (i) được nhấn mạnh tương đương với ‘seen’ nên nó phải phát âm như một strong form là /him/ chứ không được ở dạng weak form là /im/. Và về sắc thái biểu đạt cũng khác nhau, (i) có thể được nói trong một hội thoại khi nghe tên ai đó:

A: John Cleese is a very funny actor.

B: ‘Oh ,yes | I’ve seen him 

Còn (ii) giống như người nói có gì đó dè dặt hoặc còn điều gì đó nữa cần nói:

A: Have you seen my father yet?

B: I’ve  ̬ seen him | but I ‘havent had ‘time to talk to him.

Ta cũng thấy điều tương tự với âm tiết ‘her’ trong ví dụ sau:

I’ve seen  her 

I’ve  ̬ seen her

Xác định ranh giới giữa các đơn vị tông:

Về mặt ngữ pháp, có thể xác định ranh giới giữa các câu trong một lời thông qua những dấu hiệu về ngữ pháp như chấm câu. Tương tự, trong ngữ âm học siêu đoạn tính, ta cũng có thể xác định ranh giới giữa các đơn vị tông trong một lời thông qua những dấu hiệu về ngữ âm và âm vị. Tuy nhiên, việc rút ra quy luật cho sự phân biệt này rất khó, trừ khi có nhịp nghỉ rõ ràng giữa hai đơn vị tông.

Có hai nguyên tắc được nêu ra: một là có thể xác định dựa trên sự thay đổi đột ngột về cao độ khi một đơn vụ tông kết thúc và nhận ra sự bắt đầu của môt đơn vị tông khác khi người nói trở lại cao độ thường thấy ở phần đầu đơn vị tông; hai là tính nhịp điệu, trong một đơn vị tông, tiếng nói có một nhịp điệu thông thường, nhưng nhịp điệu ấy bị phá vỡ hoặc ngắt quãng ở những ranh giới đơn vị tông. Cả hai nguyên tắc trên đều hữu hiệu nhưng trong thực tiễn  phân tích ngữ điệu, không có một chứng cứ nào đủ thuyết phục để kết luận là hai nguyên tắc trên tuyệt đối đúng.

Những đơn vị tông bất quy tắc

Mọi mô tả khái quát dù có đầy đủ đến đâu cũng vẫn không bao hàm được hết các ngoại lệ, các mô tả ngữ điệu cũng vậy. Chẳng hạn, đôi khi người ta còn thấy những tông như fall-rise-fall hay rise-fall-rise. Hoặc ở phần đầu, người ta đôi khi thấy những âm tiết nhấn không phải lúc nào cũng toàn là high hoặc toàn là low. Chẳng hạn:

,After ,one of the ‘worst ‘day of my ̬ life

Và đôi khi, lời người nói bị ngắt và khiến cho một đơn vị tông bị dừng nửa chừng, chẳng hạn, thiếu âm tiết tông.

Tuy nhiên, với kiến thức về ngữ điệu, ta vẫn có thể phiên mã, xác định và nhận diện được các trường hợp bất quy tắc này.

Xem xét ngữ điệu một cách đoạn tính:

Gần đây, một cách phân tích ngữ điệu mới xuất hiện và thịnh hành là autosegmental, xuất hiện nhiều trong các nghiên cứu ở Mỹ. Theo hướng phân tích này, mọi biến đổi của ngữ điệu được quy về hai trạng thái đối cực là H (high tone) và L (low tone). Theo đó, fall tone sẽ là HL, chẳng hạn. Những âm tiết nhấn đều phải được đánh dấu là H hoặc L, hoặc kết hợp cả hai. Ranh giới có nhịp nghỉ (||) giữa các đơn vị tông được kí hiệu là %, và đặt ngay sau H hoặc L. Ví dụ “Its time to leave” sẽ được phiên mã là:

           H         H L%
Its time to leave

Ranh giới không có nhịp nghỉ (|) được kí hiệu là –, và cũng đặt sau H hoặc L.

           L                               L H–                H                       H L– L%
we looked   at   the         sky         and saw     the          clouds

Theo đó, ví dụ

 ̬ most of them

sẽ được phiên mã thành:

       H                   L– H%
most      of       them

 

Advertisements
Standard

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s