luan-vien-cu-tuc

Luân viên cụ túc

Luân viên cụ túc (輪圓具足), nghĩa là một vòng tròn đầy đủ, để chỉ một loại đàn tràng của Mật tông Tây Tạng có tên gọi phổ thông là Mạn đà la. 

Cuốn “Mật mã Tây Tạng” của Hà Mã đã cấy vào óc tôi hai niềm si mê: một cho vẻ đẹp của đất và người Tây Tạng, một cho những giai thoại về Mật Tông Phật Giáo. Trong quá trình tìm hiểu về Mật Giáo, tôi bắt gặp một khái niệm có tên là Mạn-đà-la (Mandala). Trong bài viết này, tôi muốn trình bày những đọc hiểu và cảm nhận của mình về khái niệm này.

luan-vien-cu-tuc

Để tiện cho việc định nghĩa Mạn-đà-la, có lẽ cần khoanh vùng bối cảnh mà khái niệm này xuất hiện và tồn tại. Trong Kalachakra Initiations, phần Introduction to Kalachakra, đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 có nói Phật Pháp có thể chia thành hai thừa, Tiểu Thừa và Đại Thừa. Trong đó, Đại Thừa lại có thể phân chia thành hai thừa là Ba La Mật Thừa hiển giáo và Kim Cương Thừa mật giáo, hay còn gọi là Mật Tông.

Sự phân chia này của Đại Thừa, theo ngài, là xuất phát từ những khác biệt trong phương pháp tu tập để đạt đến thành tựu viên mãn. Và sự khác biệt nằm ở chỗ Mật Tông có sử dụng những phương pháp gọi là tantra, có tài liệu dịch là Đát-đặc-la, có nơi dịch là Thành tựu pháp. Tantra được phân làm bốn loại: hạ, trung, cao và tối cao – được thực hành tùy theo căn cơ của người tu tập – là: kriyā-tantra (tức phép tu luyện qua những động tác, nghi lễ như kết đàn trường, cúng dường, đọc chú, bắt ấn), caryā-tantra (tức phép tu luyện qua hành động hằng ngày), yoga-tantra (tức phép thiền định – luyện tâm) và anuttarayoga-tantra (hay còn gọi là Tối Thượng Du Già là phương pháp tu luyện tột cùng, thành Phật trong kiếp này, với thân này).

Trong tantra anuttarayoga-tantra có một phép tu gọi là Kalachakra, dịch là Thời Luân Kim Cương Pháp. Và trong Kalachakra tantra, có một nghi thức được thực hiện với đàn tràng là một đồ hình được gọi là Mạn-đà-la.

Trích dẫn sau trong Đại Nhật Kinh nói về ý nghĩa của đồ hình Mạn-đà-la với việc tu tập:

Mandala là nơi tâm thức của chư đại bồ tát an trụ. Nó cũng là nơi an trụ tâm thức của tất cả hành giả du già. Do biết như vậy, hành giả chứng ngộ toàn giác… Sự quán tưởng mandala trong tâm hành giả lành trị cơn bịnh mê muội. Nó sẽ lập tức lành trị sự mê 4 muội trong tâm chúng sinh, và giải trừ mọi nghi nạn. Mandala không khác gì tâm thức, và tâm thức chẳng khác gì mandala. Vì sao vậy? Vì tâm thức và mandala là một. (Trích Đại Nhật Kinh, Taisho 18:41) 

Trong cuốn Bóng Trúc Bên Thềm, tác giả Tâm Chơn mô tả Mạn-đà-la như sau:

Mạn-đà-la là một hình vẽ mang tính nghệ thuật và tâm linh tôn giáo sâu sắc. Nơi đó có sự hợp nhất giữa thế giới bản thể và thế giới hiện tượng, giữa tâm thức và vũ trụ. Trong ý nghĩa thực tiễn, Mạn-đà-la còn là một đàn tràng để hành giả cúng dường, cầu nguyện và tu tập thiền quán. Mạn-đà-la là phiên âm từ chữ Phạn Mandala, có nghĩa là vòng tròn, vòng cung. Trung Hoa dịch là luân viên cụ túc, nghĩa là vòng tròn đầy đủ. Đây là một biểu tượng của sự biến hiện nơi tâm thức của ta mà cũng là biểu thị một vũ trụ thu nhỏ qua cái nhìn của bậc giác ngộ. Theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng, có nhiều loại Mạn-đà-la như Mạn-đà-la bằng cát màu hay bột đá quý màu, Mạn-đà-la bằng tranh vẽ, Mạn-đà-la bằng vật thể ba chiều, thường là kim loại hoặc gỗ và Mạn-đà-la tập trung tinh thần qua sự thiền định. Và chỉ có Mạn-đà-la được làm bằng cát màu là nổi tiếng và phổ biến nhất.

Như vậy, chúng ta tạm hiểu được khái quát khái niệm Mạn-đà-la. Tiếp theo đây, tôi muốn nói về sự lan truyền của khái niệm này đến thế giới phương Tây và đến toàn thế giới qua cuốn The Wheel of Time Sand Mandala: Visual Scripture of Tibetan Buddhism của Barry Bryant.

Hành trình phát nguyện gìn giữ thành tựu pháp Mật Tông

Năm 1988, với tâm niệm bảo vệ hòa bình thế giới, xóa tan những thị phi về Kalachakra, cũng như để giữ gìn di sản của Mật Tông Tây Tạng sau biến cố những năm 1950s, đức Đạt-lai Lạt-ma đã đồng ý lời mời của Samaya Foundation, cử bốn nhà sư ở tu viện Namgyal Monastery đến American Museum of Natural History ở New York để trình bày cho công chúng thấy về Mạn-đà-la Kalachakra.

Sự kiện này, theo tác giả Bryant, là một sự kiện có tính lịch sử vì lần đầu tiên một nghi thức tôn giáo bí truyền của Mật Tông Tây Tạng được thực hiện ở một quốc gia phương Tây, đánh dấu sự ban tặng một “nghệ thuật linh thiêng” của Tây Tạng đến di sản văn hóa và nhân học thế giới.

luan-vien-cu-tuc-01

Tháng 7 năm 1988, nhà sư đầu tiên từ Namgyal Monastery là Lobsang Samten đáp xuống sân bay JFK với 2 vali chưa cát màu. Theo lời chỉ dẫn của Lobsang Samten, Mạn-đà-la đầu tiên phải được làm là Mạn-đà-la Guhyasamaja. Vì một là, Mạn-đà-la này không quá phức tạp và có thể thực hiện bởi chỉ cần một nhà sư; hai là, có một đức tin là nếu tantra Guhyasamaja được hoàn thành, thì mọi tantra khác cũng sẽ được hoàn thành.

Để dựng Mạn-đà-la, trước hết cần xây dựng một cái nhà để chứa Mạn-đà-la gọi là Thekpu, dịch là Tứ giác đài. Phương pháp xây dựng thekpu được chuyển ngữ sang các khái niệm của kỹ thuật phương Tây bởi kiến trúc sư Stan Bryant. Thekpu được làm ra có chỗ để đặt hệ thống đèn lẫn các thiết bị thu hình, thu tiếng khác. Sau đó, Thekpu được nghệ nhân Tây Tạng Phuntsok Dorje trang trí bằng các vật phẩm từ gỗ và lụa.

Các bước tiếp theo trong việc xây dựng Mạn-đà-la có thể thấy được thông qua video sau:

 

Sau khi Mạn-đà-la được hoàn tất, sẽ có một nghi thức phá hủy được thực hiện. Các nhà sư dùng pháp khí và cọ để quét đi tác phẩm được làm ra một cách vất vả trong nhiều tuần thành một đụn cát lẫn lộn, rồi bỏ những thành phẩm này vào những cái lọ để mang đi rải xuống sông.

Sự kiện này nhận được những phản hồi tích cực từ phía công chúng Mỹ Quốc. Bryant mô tả:

Suốt sáu tuần liền ở bảo tàng, không lúc nào có dưới 100 người có mặt ở triển lãm. Người ta chiêm ngưỡng những nhà sư kiến tạo Mạn-đà-la cát với thái độ thành kính, như xem một nghi lễ thực sự trong đền thờ. Mỗi sáng lúc 10 giờ đã có khoảng 50 người chờ để cùng dự buổi cầu nguyện buổi sáng của những nhà sư mà có khi dài đến 45 phút. Sau đó, tấm màn bảo vệ được vén lên để các nhà sư tiếp tục công việc xây dựng Mạn-đà-la. Hơn 50,000 người đã đến xem triển lãm. Những gì họ thấy trong căn phòng là một nhà sư ngồi bên một cái bệ cao đến thắt lưng, khẽ khàng rắc cát màu qua một cái phễu hình trụ để vẽ nên một đồ hình gồm những hình tròn và vuông có đường kính hơn 2 mét.

Báo chí Mỹ viết nhiều về sự kiện này. Vào ngày sand mandala mở ở bảo tàng, reporter Dennis Hevesi của tờ NY Times viết “Amid the clamor and clatter of the city, a pinpoint of pure – a ‘gateway to bloss’ – is being created”.

John Perrault, nhà phê bình mỹ thuật tham dự buổi ceremony dismantling này đã viết bài báo đầu tiên về sand mandala Tạng ở Mỹ, xuất bản trong tờ Village Voice. Ông gọi sự thể hiện của sand mandala là “performance art of a high order”.

Nhiều writer và photographers từ những tạp chí, báo, truyền hình, truyền thanh khác nhanh chóng theo. Kay Larson, trong chuyên mục tạp chí New York, viết “A sand mandala is an extraordinary thing, collaborative, ephemeral, unsigned, ahistorical – contrary in everyway to ‘art’ as we mean it in the world”.

Sau khi Mạn-đà-la được hoàn thành, nó được mang đi từ bảo tàng, ngang qua World Trade Center để đến dòng song Hudson. Tại con sông, Lobsang niệm chú và đưa tiễn những hạt cát màu về với dòng nước. Camera ghi lại ánh hoàng hôn trải lên khung cảnh thành thị của New Jersey.

Advertisements
selfie nhu mot cong cu chinh tri gioi

Selfie như một công cụ chính trị giới

Ai cũng selfie nhưng mấy ai hiểu và dùng selfie như một công cụ chính trị giới (gender politics)

Năm 2013, từ vựng ‘selfie’ chính thức được “cấp đất” trên từ điển Oxford. Việc một từ tiếng lóng được giới hàn lâm xem xét nghiêm túc là tín hiệu cho thấy ngay cả những thứ hôm nay bị cho là trào lưu nhất thời ngày mai vẫn có thể nhiễm nhiên được xem như một hiện tượng bền vững của thời đại, như video games chẳng hạn.

Bản thân hành vi selfie cũng mang trong nó sứ mệnh normalisation, bình thường hóa những thứ đang bị cho là bất thường và dị biệt, thông qua việc sử dụng những nền tảng, phương tiện được công chúng chấp nhận để phóng chiếu ra những tồn tại mới mẻ, độc đáo, và duy nhất.

Selfie là kế thừa và mở rộng.

Kế thừa ở chỗ bản thân người selfie phải tiếp thu quan niệm của cộng đồng về đẹp và xấu, chấp nhận được và không chấp nhận được. Bức ảnh được lựa chọn phải có góc mặt và biểu cảm thế nào, ánh sáng và màu sắc ra sao để không gây sốc, không gây phản cảm, không bị report… và tạo được một sự kết nối nhất định với người xem ảnh.

Mở rộng ở chỗ thông qua selfie, người ta phóng chiếu ra một hình ảnh, một khoảnh khắc, một câu chuyện, một khía cạnh nhân dạng mà họ yêu thích. Nó thể hiện khao khát được thể hiện mình, được là duy nhất. Nó phải đủ riêng biệt, cá tính, độc đáo để mình cảm thấy hài lòng với sự mới mẻ, ưu trội của bản thân.

Selfie vừa là “đồng hóa” vừa là “dị hóa”, vừa bộc lộ cái khao khát được là một cái “tôi” riêng biệt duy nhất, vừa mong muốn cái “tôi” ấy được đại chúng chấp nhận và cảm mến.

Chỉ tiếc là… ngày nay không có nhiều người biết dùng selfie để làm cách mạng.

Selfie như một công cụ chính trị

Nói tới chính trị là nói tới quyền lực.

Để dễ dàng hơn cho việc truyền đạt, hãy giả định rằng tồn tại một vùng đất nọ nơi các quan niệm thẩm mỹ cơ thể tranh nhau giành sức ảnh hưởng và giành quyền thống trị xuyên suốt chiều dài lịch sử con người. Ở đó, người ta thấy dấu tích thịnh suy của từng thời kì, từng đế chế, tộc người hay tôn giáo trên những hàm răng đen vì nhuộm, cái áo nịt thắt eo con kiến và những bàn chân phụ nữ bị bó đến biến dạng, không đi được.

Người ta thấy chưa bao giờ cái đẹp không nhuốm màu chính trị, chưa bao giờ nó không bị quyền lực lũng đoạn. Và ngày nay cũng vậy. Những cơn bão văn hóa từ Đông Á, từ Mỹ, từ phương Bắc lướt qua và làm biến dạng những gì thuần túy nhất về thẩm mỹ cơ thể (trong khi người ta vẫn còn tin vào một thứ vẻ đẹp nào đó Thuần Việt – tôi không!).

Chưa có một biên niên sử nào được ghi lại, chưa có bất kì một khảo cứu nào soi sáng vùng đất nhiều lớp bồi tích của định kiến và tranh đấu ấy (hoặc có nhưng tôi chưa có may mắn được chạm đến).

Và ngày nay, xem cơ thể và hồ sơ trên mạng xã hội như phương tiện để trình diễn nhân dạng, ta cứ tưởng cách nghĩ của ta về đẹp-xấu đã là ổn, nhưng không hề. Chúng ta vẫn đang là nô lệ của những gì là normativity của những hào nhoáng đương thời.

Người ta vẫn ưu ái mũi cao, da trắng, mắt sâu… hay một sự tổng hòa của các tính trạng cơ thể nào đó được cổ xúy bởi những tập đoàn mỹ phẩm, phẫu thuật thẩm mỹ, và các công ty truyền thông, hệ quả của toàn cầu hóa, Mỹ hóa, Hàn Lưu, hay tàn dư tư tưởng thuộc địa.

Selfie để ngẩng cao đầu

Nhiệm vụ của một người selfie có ý thức sâu sắc về tranh đấu trong quan niệm về cơ thể, về thẩm mỹ, về giới là phải mở ra nhiều khả thể về biểu hiện nhân dạng, về thể hiện giới.

Bạn không cần phải da trắng, sáu múi, ăn mặc quần áo đắt tiền và đăng ảnh được trên 1000 likes để được cảm thấy là mình là một người mà vạn người muốn “chịch”.

Không được bi lụy, không được mặc cảm cơ thể khi mình không đáp ứng được một chuẩn mực nào đó do người ta đặt ra để rồi bị rối loạn ăn uống hay chán sống. Đó là cúi đầu, là nô lệ.

Xem selfie như một công cụ chính trị giới, chính trị thẩm mỹ… là cách để ta thách thức quyền lực thịnh hành, bình thường hóa sự khác biệt và nêu lên tuyên ngôn nhân văn:

Hãy can đảm thể hiện mình và yêu lấy bản thân mình.

Về chuyện ‘thế nào mới là mình’ tôi hy vọng sẽ được trình bày trong một dịp nào đó. Về những tranh cãi quanh chuyện ‘ảo’ hay ‘thật’, tôi xin khẳng định, ngay cả khi không có công nghệ số, chúng ta cũng luôn không ngừng phóng chiếu ra một cái symbolic self.

It’s not text, it’s texture that defines who we are.

‘Thật’ chính là sự thể hiện ra ngoài của cái bị cho là ‘ảo’, và ‘ảo’ thực chất lại thật hơn cả cái được cho là ‘thật’. Chính cái quá trình bồi đắp, dựng xây, constructing, fabricating cái inner self đó làm chúng ta cảm thấy mình sống ở đời này không phải là một dấu cách, mà là một ký tự.

Bài: Nhật Tuân
Ảnh: Vanguard Zine

Alexandre Yersin có phải là người đồng tính?

Bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học, người có công lớn trong việc phát hiện và cải tạo vùng đất Đà Lạt ngày nay Alexandre Yersin có phải là người đồng tính hay không.

Trong một khảo sát của vipfaq.com, khi được hỏi “Alexandre Yersin là gay hay straight”, có đến 88% người xem nghĩ ông là gay và 12% nghĩ ông là straight. Hiển nhiên công chúng thường thích bàn luận về đề tài xu hướng tình dục của người nổi tiếng, và không khó hiểu khi họ có những sự mơ mộng của riêng mình.

Tuy nhiên, thực tế thì như thế nào?

Tuy không có những tư liệu đầy đủ về đời tư của Yersin, tôi cũng tiếp cận được một số cuốn sách về ông và dẫn ra đây những đoạn trích mà mình nghĩ có thể làm cơ sở cho những suy đoán (hay mộng tưởng).

Cuốn Peste et Choléra của Patrick Deville (tựa tiếng Việt Yersin: Dịch hạch và Thổ tả do Đặng Thế Linh dịch):

“Từ năm mươi năm nay, Yersin đã chọn rời khỏi châu Âu. Hồi Chiến tranh thế giới thứ nhất ông ở châu Á, bây giờ ông cũng định ở đó cho qua cuộc chiến tranh lần thứ hai này. Một mình. Đúng như ông đã luôn sống. Hay đúng hơn là ở giữa nhóm nhỏ của ông, ở Nha Trang, một làng chài, nhóm của Yersin. Vì theo năm tháng con người cô độc đã trở thành một kẻ cầm đầu. Nơi ấy, ông đã tạo ra một cái gì đó giống như một cộng đồng, một trường dòng phi tôn giáo tách lìa khỏi thế giới, nơi ông đang trên đưởng trở về. Như thể ông đã lập thệ cho một đời sống thanh đạm và độc thân, cùng tình bằng hữu nữa, cộng đồng khoa học và nông nghiệp tại Nha Trang của ông có thể gợi nhớ một mô hình Cecilia vô chính phủ, hay một tập đoàn lao động kiểu Fourier với ông là trưởng lão mang chòm râu bạc. Yersin hẳn sẽ nhún vai nếu có ai nói với ông ý tưởng trên đây. Bởi do đôi chút tình cờ, không thực sự mong muốn, và luôn bận tâm tới những điều khác hẳn, mà lúc này ông đang có trong tay một tài sản khá lớn.

Chỉ có một lần, trong một nỗ lực hòa nhập, để theo đúng quy tắc và chuẩn theo truyền thống của Trường, lúc còn là một bác sĩ trẻ, một người Pháp trẻ, nhà nghiên cứu trẻ, ông từng tự nhủ mình cũng phải trở thành một người chồng trẻ. Dù gì thì Louis Pasteur cũng đã làm thế, và điều này đã không hề ngăn cản ông ấy làm việc. Yersin thích ăn tối ở phố Ulm trong căn hộ nhỏ bé của vợ chồng Pasteur. Hai người coi trọng lẫn nhau, họ đều là những người đàn ông cứng rắn và trung thực, kiệm lời, mắt xanh băng giá. Cả anh hẳn rồi cũng sẽ trở thành một nhà thông thái già được bao bọc bởi sự trìu mến dịu dàng của một bà vợ già. Anh đã tiến hành các bước cần thiết theo hướng ấy, áp dụng phương pháp duy lý như khi thực chứng gia phả. Như thường lệ viết thư cho mẹ. Một lá thư cho Fanny.

Bà, người vừa tìm cho anh nguồn gốc tổ tiên, nhanh chóng tìm được một vị hôn thê. Mina Schwarzenbach. Cháu gái một bà bạn. Mina nghe thật dễ thương. Ta hình dung ra nàng còn trinh và cài khuy đến tận cổ áo viền đăng ten trắng, nhưng bên dưới cái váy đen rộng rất có thể tối tối là ngọn lửa nồng khơi ra từ đầu ngón tay giữa. Yersin bắt đầu viết thư cho cô. Còn khó hơn bài mô tả bệnh bạch hầu. Nhiều bản nháp bị ném vào giỏ rác. Mina yêu quý.

Anh có nên tán tụng về cặp vợ chồng già Pasteur yên bình. Những cuộc tranh luận học thuật ở nhà họ với Perrot, giám đốc Trường Sư phạm, và những mẩu chuyện về các chuyến đi khảo cổ của ông ta tại Tiểu Á. Thế thì vụng về quá. Mina Schwarzenbach mong được đọc những vần thơ alexandrin rực lửa để tặng nàng. Hẳn tối tối nàng sẽ lấy tay kia mà giữ bức thư để nhẩm lại các vần thơ. Trong chuyện này Yersin thật vụng. Anh bị tống cổ luôn. Không ai nhắc đến chuyện này nữa. Anh cảm giác là một cô vợ cứ dính lấy anh chắc sẽ nhanh chóng trở thành phiền toái. Cũng có thế sau này sẽ tính, khi mình đã đi vòng quanh thế giới và vòng quanh vấn đề đó rồi.

Còn giờ đây mình muốn đi xem biển.”

Và một đoạn khác:

“Cánh Pasteur không nghe ông nói nữa, thế là ông chuyển qua viết thư với Henry Correvon ở vườn trồng cây thử nghiệm, tại Yverdon bên Thụy Sĩ. Ông đặt ông ta các loại hạt và xin các lời khuyên. Những người đầu tiên viết tiểu sử ông sẽ liệt kê ở Nha Trang có cây lan cát lệ và dâm bụt, loa kèn đỏ và cây mỏ vẹt. Ở Suối Giao, trên cao hơn, thì có mào gà và cẩm chướng, cỏ roi ngựa và hoa chân bê, vãn anh và hoa lồng đèn. Ở Hòn Bà là hoa hồng và hoa lan. Trong các bức thư ấy, Yersin lập danh sách những loài cây chỉ ra được lá mà không bao giờ nở hoa: quế trúc và dạ lan hương, thủy tiên và tuylíp. Ông nghiên cứu thực vật học. Những bông hoa là các cơ quan sinh dục của cây cối.

Có lẽ những bông hoa ấy, cũng như ông, đã quyết định không bao giờ sinh sản.

Ông quá biết những thứ dấm dớ mà báo chí bịa ra. Ông đã đọc những điều ngu xuẩn vể huyền thoại đen bao quanh ông, rằng ông có hậu duệ, rằng một cô gái bản xứ miển núi đã sinh cho bác sĩ Năm một đứa con trai. Một phụ nữ thuộc các bộ tộc mà ngay nước Cộng hòa lẫn hoàng đế An Nam cũng chẳng buồn ghi nhận là công dân. Rồi sẽ có những điều hoang đường khác. Nước chảy chỗ trũng. Khả năng cao hơn là Yersin đã vượt lên trên những động tác sinh sản đôi phần cải lương. Ông đã dành vô khối thời gian ở phòng thí nghiệm để ghép đôi những con đực lên cơn động dục và những con cái hứng tình, gí mũi chuột đực vào âm hộ chuột cái đề đẩy nhanh tốc độ cuộc thí nghiệm, và chưa bao giờ ông nhìn ra được ở trong đống vi khuẩn của mình một vi khuẩn tình yêu nào. Chắc hẳn, trong đầu ông đã nảy sinh một sự khinh bỉ sâu xa đối với những cái gương và hành động giao cấu, những thứ làm tăng dân số loài người một cách vô cớ.

Yersin sẽ không đi xa nữa. Ông đã đi vòng quanh thế giới và vòng quanh vấn đề. Ông biết rằng hành tinh chật hẹp lại, nơi nào cũng thế cả, và sẽ sớm phải đề phòng “cái ma lực tư sản ấy ở mọi nơi mà chiếc rương đặt ta xuống”. Giờ đây ông là một cái cây. Là một cái cây cũng chính là cuộc đời và cũng là không đi đâu. Ông đã đạt tới sự cô độc thật đẹp, thật kỳ vĩ. Đạt tới một sự buồn chán đáng ngưỡng mộ. Và tối đến, khi nỗi mệt mỏi rốt cuộc đã đẩy lùi xa các ý tưởng điên rồ, đầu óc con người ta quay mòng mòng mà chẳng cần uống rượu, ta hẳn sẽ muốn nói tất cả những chuyện ấy với cha mình, để hỏi ý kiến. Ta nhớ ra rằng giờ đây ta đã già hơn ông ấy ở bất kỳ lúc nào. Ta bắt đầu chờ đợi cái chết. Ông là chuyên gia về sự tan rã. Và ông muốn cơ thể mình tan rã ở chính mảnh đất này.

Thường thường, buổi tối ở căn nhà gỗ, một mình với lũ mèo Xiêm, ông đọc lại Pasteur.

“Nếu các vi sinh vật biến mất khỏi trái đất của chúng ta, bề mặt quả đất sẽ dầy lên chất hữu cơ chết đi và đủ mọi loại xác chết, cả động vật lẫn thực vật. Chính chúng là những tác nhân chủ yếu cung cấp cho ôxy các đặc tính ôxy hóa của nó. Nếu không có chúng thì sẽ không thể có cuộc sống, bởi vì tác phẩm của cái chết sẽ không được hoàn thành.”

Chính sự sống muốn được sống, rời bỏ càng mau càng tốt cái cơ thể đang già nua này, để nhảy vào một cơ thể mới và, những cơ thể ấy được sự sống, khi đi ngang qua, trả công cho sự đóng góp không chủ ý của chúng vào việc kéo dài nó, bằng cái đống tiền lẻ là cực khoái. Chẳng có gì sinh ra từ hư vô. Mọi thứ từng sinh ra đều sẽ phải chết đi. Giữa hai trạng thái đó, mỗi người được tự do sống cuộc đời bình thản và thẳng tắp cùa một kỵ sĩ trên lưng ngựa. Thứ chủ nghĩa khắc kỷ cũ kỹ được Spinoza tìm lại và sức mạnh nội tại của sự sống, thứ duy nhất trường tồn. Nguyên tắc thuần túy, bản tính thiên về tự nhiên nơi mọi thứ đều dẫn đến. Cuộc đời là câu chuyện đùa ai ai cũng trải qua.”

Lời bạt của Đoàn Cầm Thi ở cuối sách:

“Có thể nói, với Patrick Deville, lời thách đố nằm ngay từ cái tựa buồn như chấu cắn mà ông cố tình chọn cho tác phẩm của mình. Đương nhiên, nó gợi đến hai nhan đề nổi tiếng của văn học thế giới: Dịch hạch và Tình yêu thời thổ tả. Nếu Camus được nói đến trực tiếp trong tác phẩm, thì Patrick Deville quả quyết: chính Yersin đã khám phá ra chuột là nguyên nhân của dịch hạch, và Camus phải nợ ông điều đó khi viết cuốn tiểu thuyết của mình. Còn Marquez, tuy không nhắc đến, nhưng tên sách cùa Patrick Deville giống như một nháy mắt gửi đến nhà văn Colombia: không tình yêu, thời thổ tả vẫn còn hấp dẫn!”

Cuốn Alexandre Yersin nửa thế kỷ ở Việt Nam do Quỹ Văn Hóa (Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao) xuất bản năm 1992:

Cuốn  này có đề cập ông yêu quý trẻ con và càng già ông càng thích đọc những cuốn sách cho trẻ con.

Bác sĩ Nguyễn Văn Bá ở Paris viết:

“Ông rất thương yêu trẻ con xóm Cồn, thường chiếu phim cho chúng xem. Trẻ con cũng thích ông chia kẹo hằng ngày cho chúng. Một hôm, chúng đánh vỡ chậu hoa, ông bảo người giúp việc: “Đừng rầy đánh, người ta sợ.”

“Người dân Nha Trang gọi ông là Ông Năm vì theo ngạch nhà binh ông là Y sĩ Đại tá. Ông sống thanh đạm độc thân, tiết chế xa hoa nhục dục”.

Phim tài liệu Ce n’est pas une vie que de ne pas bouger – Alexandre Yersin do Thụy Sĩ sản xuất (tựa tiếng Việt Yersin – Sống không dịch chuyển)

Bộ phim nói là trong những ngày tháng học ở Đức ông thân với một thanh niên có tên là Sternberg, vốn là một người Do Thái. Dù cho lúc bấy giờ chủ nghĩa bài Do Thái đang thâm nhập rất khủng khiếp vào đời sống nước Đức, ông vẫn không ngừng kết thân và duy trì tình bạn với Sternberg.

Tuy những dữ kiện kể trên chưa thể giúp chúng ta kết luận được điều gì đanh thép. Nhưng đủ để cho chúng ta mơ mộng rằng rất có thể ta tìm thấy được một thứ ở vùng đất Đà Lạt một thứ liên quan đến Queer, một cái tên ít ai ngờ đến: Alexandre Yersin.

 

 

series-hanoi-love-lgbt-cua-humans-of-ha-noi

Series Hanoi Love – LGBT của Humans of Hà Nội

Hanoi Love – LGBT là một series video của dự án Humans of Hà Nội. Hôm vừa rồi tôi tìm xem lại, và cảm thấy phải viết một bài giới thiệu về series này.

Được truyền cảm hứng từ Humans of New York, năm 2013 và 2014, các dự án như Humans of Hà Nội và Humans of Sài Gòn được khai sinh ở Việt Nam. Mục đích của những dự án này là để lan tỏa những câu chuyện đầy cảm hứng của từng cá nhân cụ thể của một thành phố, một vùng đất. Qua đó, người xem cảm nhận được tình yêu thương và sự đồng cảm.

Năm 2016, Humans of Hà Nội thực hiện một series đặc biệt có tên Hanoi Love gồm 29 video được đánh số. Trong đó, từng người khách mời sẽ kể một câu chuyện của riêng mình. Có anh thanh niên kể về mẹ, có cô gái trẻ kể về cha, và có những người mẹ kể về con cái mình…

Với riêng tôi, đáng chú ý nhất và gần gũi nhất là 10 videos của các khách mời là LGBT và phụ huynh của LGBT. Dù đã xem đi xem lại nhiều lần, tôi vẫn cảm thấy chính mình trong mỗi câu chuyện của họ:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tuy được ghi hình một cách có bài trí, sắp đặt, nhưng lời kể vẫn rất chân thành. Mỗi người là một mảnh ghép riêng cho một bức tranh tổng thể về cộng đồng LGBT Việt Nam.

Cá nhân tôi rất trân trọng khi những câu chuyện này được ghi lại và chia sẻ. Vì nó làm tôi cảm thấy mình như đang được lắng nghe, được nói hộ, và được hy vọng vào một tương lai tốt hơn.

Tôi muốn nói lời cảm ơn đến nhóm thực hiện, muốn những video như thế này sẽ được thực hiện nhiều hơn nữa. Tôi tin những câu chuyện có thể sẽ khép lại nhưng sự kết nối giữa người và người qua những sản phẩm như này sẽ còn mãi.

Bạn gái tôi từng là đàn ông

“Người ta gọi tôi là trans-amorous, đàn ông thích “yêu” những người nữ chuyển giới. Tôi bình thường hay bất bình thường?”
“Một ngày nọ, trong căn hộ của mình ở thành phố New York, khi đang lật giở những trang tạp chí khiêu dâm, tôi tình cờ thấy một người phụ nữ có “cái ấy” của đàn ông. Ngay lập tức, máu trong người tôi bắt đầu chộn rộn, tim đập nhanh hơn, mặt nóng bừng và “thằng nhỏ” của mình thì “trỗi dậy” một cách không kiểm soát. Lúc ấy, tôi vô cùng hoang mang tự hỏi: Không lẽ mình là gay?”
Matt ngồi đấy, cơ thể vẫn săn chắc dù đã ngoại tứ tuần, trong bộ quần áo thể thao, trên chiếc ghế sô-pha, kể tôi nghe về cái ngày định mệnh 30 năm về trước và những bĩ cực mà anh phải gánh chịu sau đó. Giờ đây, sau nhiều năm sống trong phiền não, Matt cuối cùng cũng cảm thấy nhẹ nhõm hơn.
Vào những năm 80, việc một người đàn ông bình thường bỗng dưng phát hiện ra mình có ham muốn tình dục đặc biệt dành cho người chuyển giới là một điều rất đáng sợ. Thời ấy những người như vậy không có nơi nào để tìm đến cả, không một trung tâm hỗ trợ, không một cộng đồng giúp đỡ nào. Nếu bị phát hiện ra, có thể họ sẽ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề.
Thực tế đã có một người đàn ông từng chia sẻ trên Reddit, rằng mối quan hệ giữa anh và bạn gái là người chuyển giới bị cả gia đình lẫn bạn bè xung quanh ngăn cấm. Họ móc mỉa anh, gọi anh là gay và thường hỏi anh “có phải cô ta cũng có của quý của đàn ông hay không”. Anh chia sẻ “dù bạn gái tôi chưa làm phẫu thuật nhưng tôi vẫn thấy cô ấy cũng như nhiều người con gái khác mà thôi”.

Nếu sống trong một xã hội hoàn toàn khác, thì việc này chẳng thành vấn đề

Ở một diễn đàn khác, khi người ta hỏi trai thẳng liệu họ có sẵn sàng hẹn hò với một phụ nữ chuyển giới hay không. Nhiều người trả lời thẳng thắn rằng không; một số khác thì bảo rằng có, miễn là cô đó giống nữ hoàn toàn và đẹp gái. Nhưng cũng có một câu trả lời khác như này: “Nếu sống trong một xã hội hoàn toàn khác, thì việc này chẳng thành vấn đề. Nhưng thực tế đời sống hiện tại không cho phép tôi làm điều ấy”.
Matt quan hệ lần đầu với người chuyển giới vào năm 1987. Đó là một cô gái mà anh gặp trên đoạn đường cao tốc vốn nổi tiếng là điểm nóng của lao động tình dục chuyển giới ở New York. Mặc dù anh rất thích trải nghiệm tình dục mà mình có, nhưng sau mỗi cuộc giao hoan, anh luôn thấy một cảm giác tội lỗi, sợ sệt: “Liệu có ai nhìn thấy không? Liệu mình có thể bị nhiễm HIV không? Tôi đã rất sợ nhưng không dám nói cho ai cả.”
Thời điểm ấy thế giới đang có đại dịch AIDS, mà quan hệ đồng giới lại dễ lây nhiễm hơn quan hệ khác giới, nên người ta thường gắn mác những người có quan hệ đồng giới hoặc quan hệ “cửa sau” là những kẻ lan truyền HIV. “Thời ấy không có thuốc chữa, chỉ cần dính một phát là “đi” ngay. Nhưng tôi sợ bị nhiễm thì ít, mà sợ cái nhìn của cộng đồng thì nhiều”. Bệnh cùng lắm thì chết, nhưng tai tiếng thì ám ảnh cả về sau, lên những người quanh mình.
Matt đã gặp vô vàn những người chuyển giới bán dâm. Anh là một khách hàng quen mặt của họ suốt 30 năm nay. Mặc cho những bất an trong lòng, anh luôn cảm thấy cần nhiều thứ hơn là trải nghiệm tình dục đơn thuần. Anh từng thử hẹn hò với vài người trong số ấy, nhưng đều liên tục bị từ chối.
“Người chuyển giới lao động tình dục thường tạo cho mình một vỏ bọc sau những tổn thương mà đàn ông gây ra cho họ. Phần lớn đàn ông chỉ coi họ như một thứ đồ chơi”. Trên thực tế, nhiều người đàn ông tuy thích quan hệ với một người chuyển giới nhưng chỉ xem nó như một sở thích khác lạ, chứ không hề quan tâm đến việc họ cảm thấy mình được đối xử như thế nào như một con người.

Có không ít đàn ông nhận mình là trai thẳng và quen một cô bạn gái. Nhưng họ có ham muốn dành cho nữ chuyển giới nhiều hơn cả cho phụ nữ. Và họ tìm cách che giấu điều đó để không bị xã hội xem là quái dị.

Về sau, Matt vượt qua được những lo sợ của bản thân để nghiêm túc tìm kiếm một mối quan hệ lâu dài với một người chuyển giới. Lúc này, mối duyên nợ của đời anh xuất hiện.
Khoảng 10 năm trước, Matt gặp một cô gái chuyển giới tên Alicia. Đó là người chuyển giới đầu tiên mà anh hôn ở nơi công cộng. Matt kể “lúc cả hai cùng đi dạo trên đường, và tôi lo lắng không biết liệu có ai thấy hay không? Thì cô ấy nói với tôi rằng, em sẽ đi dạo với anh, nhưng nếu anh thấy ngại vì em thì em cũng sẽ thấy ngại vì anh”. Và ngay lúc đó anh đã hôn cô. Matt mỉm cười, lắc đầu khi nghĩ về những suy nghĩ bấp bênh của mình ngày trước.
Như nhiều người nữ chuyển giới nghèo khác, Alicia nghiện thuốc phiện, và cô thường gọi Matt để kiếm tiền. “Tôi đưa cô ấy 100 đô, nhưng không phải để làm tình. Lúc ấy trông Alicia gầy trơ xương rất đáng thương, và nó làm tôi đau lòng”. Matt muốn giúp nhưng không thể, đau đớn nhìn Alicia chìm sâu vào nghiện ngập.
Sáu, bảy năm sau đó, Matt cố tìm lại Alicia, nhưng cô hoàn toàn mất dấu, cả ngoài đời lẫn trên mạng.
Đến tận năm ngoái, sau hơn chục năm sống hai cuộc sống khác nhau, Matt mới sẵn sàng cho một mối quan hệ ổn định, lâu dài. Anh tìm một người chuyển giới để yêu và sống cùng. Nhưng tìm đâu ra chứ?
Matt thử dùng những ứng dụng hẹn hò như OkCupid. Lúc này, OkCupid đã có danh mục dành cho người chuyển giới. Và tình cờ thay, người đầu tiên mà Matt kết nối được lại chính là Alicia. “Tôi cứ tưởng cô ấy đã chết. Vì cổ từng nói tôi là mình chắc không thể sống hơn 10 năm nữa”.
Alicia trong ảnh trông khỏe mạnh và hạnh phúc hơn ngày xưa. Profile ghi cô có việc làm và đang tìm kiếm một mối quan hệ. Nhiều năm kể từ lần cuối gặp nhau, Alicia đã cai nghiện và bắt đầu vận động cho quyền lợi của cộng đồng chuyển giới. Cô nhận ra Matt và đồng ý gặp, nhưng cái vỏ bọc mà cô dựng nên vẫn còn nguyên.
Tuy vậy, Matt biết rằng mình không chỉ là một khách hàng mua “tình”, mà có thể cho cô nhiều hơn thế. Và trong cuộc tương phùng lần này, cả hai không đến với nhau chỉ vì tiền hay tình dục. Matt nắm tay Alicia đi dọc con đường rồi ngồi xuống mỏm đá bên dưới cầu Brooklyn. “Đó là một cuộc hẹn hò thực sự, lãng mạn và tuyệt vời, và là lần đầu tiên mà tôi không hề lo sợ”.
Cánh cửa phòng mở ra, Alicia bước vào với một đĩa bánh trên tay. Matt vui như một đứa trẻ. Anh kéo cô lại ghế sô-pha nhưng cô khéo léo đẩy anh ra để cột lại mái tóc dài của mình rồi mới lại ngồi bên cạnh.
Cả Matt lẫn Alicia đều đang có một cuộc sống hôn nhân như nhiều cặp đôi khác. Ở tuổi tứ tuần, họ đều làm công việc full-time và đều biết chăm sóc bản thân. Anh yêu tính cách cầu tiến và khiếu hài hước của cô. Còn cô thì tin rằng “nếu người chuyển giới đặc biệt, thì người bạn đời của họ cũng đặc biệt không kém, vì không có nhiều người như vậy”.

Nếu người chuyển giới đặc biệt, thì người bạn đời của họ cũng đặc biệt không kém, vì không có nhiều người như vậy.

Matt kể anh biết khá ít người cũng yêu người chuyển giới giống mình. Lần nọ, anh có gặp một anh chàng hẹn hò với bạn của Alicia. “Anh ta trẻ hơn tôi và có lần hỏi tôi cái câu tôi từng tự hỏi chính mình – liệu việc này có biến tôi thành gay không? Và tôi trả lời: Cậu biết không? Nếu mối quan hệ này làm cậu vui và người yêu của cậu cũng vui, thì việc gì phải bận tâm về chuyện ấy? Tôi nghĩ những lời đó đã có tác động đến cuộc sống của chàng trai ấy về sau”.
Matt nói tiếp: “Nói thật với cậu, có một điều tôi lấy làm xấu hổ, đó là tôi vẫn chưa công khai mối quan hệ của mình với gia đình và đồng nghiệp. Họ thường hay nói về người chuyển giới với những lời lẽ cay nghiệt. Alicia bảo không cần phải làm việc ấy làm gì. Và một đôi lần tôi cũng đáp lại anh tin là những ai đã phải sống cả đời với những tranh đấu nội tại, những mâu thuẫn, lo sợ của bản thân thì cuối cùng cũng sẽ tự do”.
Cái thành kiến dành cho những người đàn ông yêu người chuyển giới đã ăn sâu bám rễ trong xã hội mà chỉ cần bí mật lộ ra thì những hậu quả kéo theo sẽ khủng khiếp không lường hết được.
Ngôn ngữ của chúng ta đã sản sinh ra một hệ thống khái niệm để gọi tên từng nhóm người dựa trên giới tính của họ: người dị tính, người đồng tính, người song tính, người chuyển giới, người vô tính, người lưỡng tính… Và chúng ta không ngừng tìm cách gò ép bản thân sao cho vừa khít với một cái danh tính nào đó trong hệ thống phân loại nói trên. Nhưng không ai thực sự là con người mà họ tuyên bố họ là.

Thay vì cố gắng phân loại và đấu tranh để “bình thường hóa” một cái tên gọi, sao chúng ta không đơn giản nghĩ rằng tất cả chúng ta đều “bất thường”, đều riêng biệt?

Thay vì cố gắng phân loại và đấu tranh để “bình thường hóa” một cái tên gọi, sao chúng ta không đơn giản nghĩ rằng tất cả chúng ta đều “bất thường”, đều riêng biệt? Và do đó, miễn là chúng ta không làm gì phương hại đến cuộc sống của người khác, thì hãy cứ sống, cứ yêu theo cách mình muốn?
Tôi hỏi Matt cần phải làm gì để thay đổi xã hội, để giúp những người đàn ông yêu người chuyển giới được bước ra ánh sáng. Anh nói “chỉ cần ngoài kia có thêm những người đàn ông dám nắm tay một người nữ chuyển giới đi trên đường là đủ. Nó cho những người đàn ông khác đủ can đảm để làm điều tương tự mà không hề sợ hãi”.
Theo Broadly