Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 16

Đơn vị tông (the tone-unit)

Tiếng Anh không phải là ngôn ngữ có thanh điệu (tone language). Do đó, cách phân tích chức năng và sự phân bố của tông trong Tiếng Anh khác với trong những ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Việt. Trong những ngôn ngữ có thanh điệu, người ta phân tích tông dựa trên việc khảo cứu từng đơn vị của ngữ âm học là âm tiết, xem xét mỗi âm tiết như là một đối tượng có thể biến đổi một cách độc lập về thanh điệu để mang nghĩa khác. Trong tiếng Anh, số lượng từ vựng 1 âm tiết có thể biến đổi sắc thái nghĩa khi biến đổi tông của chúng rất ít, chẳng hạn như từ ‘yes’ và ‘no’ ở chương 15. Việc phân tích tông trong tiếng Anh, theo đó, vượt lên trên phạm vi một âm tiết, do đó cần một đơn vị khác cho tông. Đó là đơn vị tông (tone-unit).

Một đơn vị tông chứa ít nhất 1 âm tiết. Cách định nghĩa khái niệm đơn vị tông tốt nhất là thông qua ví dụ minh họa. (vì trong khi nói, intonation biểu thị dấu câu, nên trong những ví dụ được ký hiệu về tông sau không cần phải đưa thêm dấu câu. Những âm tiết có chứa tông sẽ được gạch chân.):

is it ′you

Trong ví dụ trên, âm tiết thứ ba mạnh hơn hai âm tiết còn lại vì có chứa một tông: rising tone. Hai âm tiết đầu thường nhẹ hơn và được cho là có cao độ không đổi. Vậy tại sao chúng ta không nói rằng hai âm tiết ‘is’ và ‘it’ chứa tông ngang, level tone? Bởi vì nếu nói rằng các âm tiết trên chứa tông ngang, thì các âm tiết ấy sẽ cũng được nhấn mạnh như âm tiết ‘you’.

Chẳng hạn trong tiếng Trung Phổ Thông, từ mäma chứa hai âm tiết, âm tiết đầu mạnh, có thanh ngang; âm tiết sau nhẹ, vô thanh. Nếu âm tiết sau cũng chứa thanh ngang, nghĩa là nó sẽ mạnh như âm đầu, thì nó sẽ bị biến đổi nghĩa. Còn trong tiếng Anh, trong ví dụ trên, nếu nhấn cả ‘is’ và ‘it’, câu nói đó sẽ không tự nhiên mà như là đang cố gắng nói chậm và to ra cho một người lãng tai hiểu vậy.

Âm tiết có chứa tông gọi là âm tiết tông (tonic syllable). Những âm tiết chứa tông được nhấn mạnh hơn âm tiết không chứa tông. Một âm tiết tông không chỉ mang tông, mà nó còn được nhấn mạnh bằng trường độ, cường độ so với các âm tiết không mang tông trong câu nói. Sự nhấn mạnh này được gọi là nhấn tông (tonic stress). Một số người gọi dùng thuật ngữ nucleus và nuclear stress thay vì là tonic syllable và tonic stress.

Ví dụ trên có thể được mở rộng như sau:

John is it ′you

Fall-rise tone thường gặp khi gọi tên ai đó. Nếu có một nhịp nghỉ giữa ‘John’ và ‘is it you’ thì có 2 utterances ở đây. Nhưng chúng ta sẽ xem xét nó như một utterance.

Và utterance này được chia làm hai đơn vị tông: ‘john’ và ‘is it you’.

Có thể thấy rằng đơn vị tông có mối quan hệ thứ bậc (hierarchical relationship) với các đơn vị ngữ âm khác: một diễn ngôn (speech) bao gồm một hoặc nhiều lời nói (utterances), mỗi một lời nói gồm một hoặc nhiều đơn vị tông (tone-unit), mỗi một đơn vị tông bao gồm một hoặc nhiều feet, mỗi một foot bao gồm một hoặc nhiều âm tiết (syllables), mỗi một âm tiết bao gồm một hoặc nhiều âm vị (phonemes).

Cấu trúc của đơn vị tông:

Ở chương trước, ta chỉ mới đề cập đến một bộ phận cấu thành của đơn vị tông là âm tiết tông. Hầu như mọi đơn vị tông đều thuộc dạng đơn (simple), những dạng phức (compound) không được trình bày ở chương này. Mỗ đơn vị tông dạng đơn (simple tone-unit) luôn có một và chỉ một âm tiết tông; nói cách khác, âm tiết tông là bộ phận không thể thiếu và duy nhất của một đơn vị tông. (cũng giống như vai trò của nguyên âm trong âm tiết vậy). Ngoài âm tiết tông, đơn vị tông còn chứa:

The head – phần đầu đơn vị tông:

Đây là một utterance chỉ gồm 1 âm tiết tông:

those

Utterance sau gồm 1 đơn vị tông, và trong đó có 1 âm tiết tông như trên:

‘give me those

Toàn bộ phần đứng trước âm tiết tông trong đơn vị tông được xem là phần đầu (head). Mỗi một head được bắt đầu bằng một âm tiết nhấn (stressed syllable), như âm tiết ‘give’ ở trên. Head là bộ phận kéo dài từ âm tiết nhấn đầu tiên cho đến âm tiết tông. Nếu không có âm tiết nhấn đầu thì không có head.

Trong ví dụ sau, head bao gồm 5 âm tiết đầu:

‘Bill ‘called to ‘give me these

Còn ví dụ sau là một utterance gồm một đơn vị tông, có chứa 1 âm tiết tông nhưng không có head:

in an hour

Trong ví dụ này, hai âm tiết đầu không được gọi là head, mà chúng được gọi là pre-head (phần trước đầu).

The Pre-head, phần trước đầu của đơn vị tông:

Pre-head bao gồm toàn bộ những âm tiết không nhấn trong đơn vị tông đứng trước âm tiết nhấn đầu tiên, tức đứng trước head. Theo đó, phần pre-heads có thể bắt gặp ở 2 trường hợp sau:

i) Khi không có head (không có âm tiết nhấn trước âm tiết tông): như ví dụ ‘in an hour’ ở trên.

ii) Khi có head, như trong ví dụ:

in a ‘little ‘less than an hour

The tail – phần đuôi đơn vị tông:

Trong một đơn vị tông, thường theo sau âm tiết tông có một số âm tiết khác nữa. Toàn bộ những âm tiết từ âm tiết tông đến hết đơn vị tông được gọi là tail, tức phần đuôi của đơn vị tông. Những ví dụ sau sẽ cho thấy điều đó:

look at them

what did you say

both of them were here

Khi cần thiết phải nhấn một âm tiết thuộc phần đuôi, chúng ta phải dùng một ký hiệu đặc biệt là dấu chấm • vì những lí do sẽ được trình bày sau. Theo đó những ví dụ trên sẽ được phiên mã lại như sau:

look at them

what did you ·say

both of them were ·here

Như vậy, các bộ phận của một đơn vị tông có thể được mô tả như sau:

(pre-head) (head) tonic syllable (tail)

Hay

(PH) (H) TS (T)

Những bộ phận trong ngoặc là có thể có hoặc không có. Để minh họa rõ hơn, chúng ta cùng phiên mã một đoạn thoại dài gồm nhiều đơn vị tông sau. Để tách bạch ranh giới giữa các đơn vị tông, tức là kết thúc một đơn vị tông này và bắt đầu một đơn vị tông khác, người ta đôi khi có thể dùng một nhịp nghỉ, đôi khi không. Khi phiên mã, ranh giới giữa hai đơn vị tông sẽ là đường dọc kép (||) nếu có nhịp nghỉ, và sẽ là đường dọc đơn (|) nếu không có nhịp nghỉ.

|| and then ‘nearer to the  ̬ front || on the left | theres a ‘bit of forest | ‘coming ‘down to the waterside || and then a ‘bit of a bay ||

Theo đó, cấu trúc của các đơn vị tông trong đoạn thoại trên được minh họa như sau:

|| PH H TS || PH TS | PH H TS T | H TS  T || PH H TS ||

Đoạn trên gồm 5 đơn vị tông. Đơn vị tông thứ ba có đầy đủ các bộ phận, trong đó từ ‘forest’ gồm 2 âm tiết, âm tiết đầu là âm tiết tông và âm tiết sau là đuôi.

Những trường hợp về cao độ trong đơn vị tông dạng đơn:

Ngữ điệu của một lời nói được tạo ra bởi các đơn vị tông của lời nói đó.

Mỗi một âm tiết tông trong đơn vị tông đều phải chứa một trong 5 tông đề cập đến ở chương trước (rise, fall, rise-fall, fall-rise hoặc level). Nếu âm tiết tông là âm tiết cuối, tông nghe thấy sẽ không khác gì với một đơn vị tông chỉ gồm 1 âm tiết. Chẳng hạn, âm tiết tông ‘here’ trong đơn vị tông có phần đầu sau nghe cũng giống như thể khi nó là âm tiết tông của một đơn vị tông chỉ gồm một âm tiết:

here                                             ‘shall we ‘sit here 

Tuy nhiên, nếu có những âm tiết khác theo sau âm tiết tông, tức là nếu đơn vị tông có phần đuôi, chúng ta sẽ thấy sự chuyển hướng của cao độ trong tông không được đầy đủ trong âm tiết tông. Nếu phần đuôi theo sau một âm tiết tông rising tone, những âm tiết thuộc phần đuôi sẽ tiếp tục nâng lên về cao độ, tức người nói sẽ tiếp tục lên tông sau âm tiết tông rising tone.

Chẳng hạn, âm tiết ‘what’ trong đơn vị tông sau có rising tone, khiến cho phần đuôi theo sau nó cũng đi lên về cao độ:

what did you say

Tương tự như vậy, ta sẽ thấy trường hợp âm tiết tông falling tone khi có phần đuôi cũng sẽ khiến phần đuôi đi xuống về cao độ:

why did you go

Vì level tone thường không xuất hiện trong giao tiếp thông tục thông thường, nên chúng ta không khảo cứu về nó. Đối với các tông rise-fall và fall-rise, chúng ta sẽ nói đến trong chương sau.

 

 

 

 

 

Advertisements
Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 15

Các đơn vị ngôn ngữ nói được phân ra thành các đơn vị đoạn tính (segmental) bao gồm nguyên âm và phụ âm, và các đơn vị siêu đoạn tính (suprasegmental) bao gồm trọng âm và ngữ điệu.

Ngữ điệu (intonatiob) là gì?

Rất khó để định nghĩa nhưng tạm xem nó như cao độ của giọng nói (the pitch of the voice) trong câu. Trừ một số trường hợp đặc biệt, hầu như mọi lúc chúng ta nói, cao độ của giọng nói chúng ta không ngừng thay đổi. Một trong những bài tập quan trọng trong phân tích ngữ điệu là lắng nghe cao độ giọng nói của người nói và nhận biết mục đích của nó; đây là một điều không hề dễ dàng và rất khác với việc học các đơn vị đoạn tính. Cao độ được mô tả bởi một thước đo ước lượng với hai điểm nút là cao độ cao (high pitch) và cao độ thấp (low pitch). Một số người khó phân định được sự khác biệt này, cũng giống như một số người khó phân định được nặng-nhẹ hay phải-trái.

Vì cao độ trong giọng nói của một người có thể thay đổi một cách vô chừng và không cố ý, khi nghiên cứu về ngữ điệu trong giọng nói, chỉ nên quan tâm đến những khía cạnh của cao độ giọng nói có ý nghĩa về mặt ngôn ngữ học.

Về cao độ (pitch):

Về mặt cấu âm, cao độ của giọng nói là do sự rung động của dây thanh (vocal folds). Dây thanh rung càng nhanh thì giọng càng cao, và ngược lại. Về mặt vật lý, cao độ hoàn toàn có thể đo đạt được thông qua thông số về tần số cơ bản (fundamental frequency). Tuy nhiên, trong giao tiếp, khái niệm cao độ không chỉ phụ thuộc vào người nói, đo đạt được, mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận của người nghe, không đo đạc được.

Do đó, trong ngôn ngữ học, cao độ buộc phải trước hết cảm nhận được (perceptible) bởi người nghe, thông qua sự đối lập (contrast) giữa giọng cao và giọng thấp. Nhờ sự đối lập này mà ta phân biệt được các cao độ khác nhau.

Dạng thức và chức năng của ngữ điệu:

Đơn vị nhỏ nhất của tiếng nói là âm tiết (syllable), và một chuỗi liên tiếp các âm tiết được phát ra cùng với nhau, ngắt ở đầu và cuối bởi một nhịp nghỉ rõ ràng (clear pause) được gọi là một lời nói (utterance). Trong chương này, chúng ta chỉ bàn về ngữ điệu của một lời nói chỉ gồm 1 âm tiết (one-syllable utterance).

Ngữ điệu của lời nói chỉ gồm 1 âm tiết:

Hai điển mẫu cho lời nói chỉ gồm 1 âm tiết là ‘yes’ và ‘no’. Để mô tả cho biểu hiện của cao độ trong giọng nói, người ta dùng từ tông (tone). Theo đó, tông của một âm tiết có thể không đổi (level tone) hoặc thay đổi (moving tone), gồm lên tông (rising) hoặc xuống tông (falling).

Ngày nay, rất ít người tin là người ta có thể khảo cứu một cách khoa học và đầy đủ về các dạng thức và chức năng của ngữ điệu bởi vì chúng rất đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên, có những nguyên tắc chung nhất có thể được rút ra. Tôi tin rằng người học tiếng Anh ở trình độ cao có thể thông qua khóa học này nhận diện được các nguyên tắc về ngữ điệu của người bản ngữ và bắt chước chúng. Cách tốt nhất để tự nhiên đắc thụ việc vận dụng ngữ điệu như người bản ngữ là sinh ra ở một nước nói tiếng Anh, với người học là người lớn, cần phải luyện tập thông qua việc nghe và nói với người bản ngữ. Có một sự thật gây nản lòng là những ai không có điều kiện giao tiếp thường xuyên với người bản ngữ hay không nghe Tiếng Anh thông tục thường xuyên sẽ không bao giờ có thể nắm bắt được ngữ điệu, ngay cả khi họ rất giỏi về phát âm các đơn vị đoạn tính và trọng âm.

Cách phiên mã ngữ điệu:

High Level             ⁻⁻yes                        ⁻⁻no

Low Level          _ yes                          _no

Falling                 yes                          no

Rising                   yes                          no

Khi thay đổi ngữ điệu trong Tiếng Anh, chỉ có sắc thái biểu đạt là thay đổi, còn ý nghĩa vẫn vậy. Nhưng trong tiếng Việt, nếu thay đổi thanh điệu, một từ sẽ biến thành một từ hoàn toàn khác, chẳng hạn từ ba (thanh ngang) và từ bả (thanh hỏi). Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu (tone language). Tiếng Trung Phổ Thông (Mandarin Chinese) cũng vậy:  ⁻⁻ma nghĩa là mẹ, ma nghĩa là cây gai dầu, ma nghĩa là trách mắng. Vì là một ngôn ngữ không có thanh điệu, rất khó hệ thống hóa tiếng Anh.

Những tông phức (complex tone) và quãng cao độ (pitch height):

Tông không chỉ có level, rise và fall, mà nó có thể biến đổi phức tạp hơn thành fall-rise tone (xuống rồi lên tông) hoặc rise-fall tone (lên rồi xuống tông).

Một điểm phức tạp nữa cần được nêu ra ở đây. Mỗi một người nói có một quãng cao độ của riêng mình khi nói: từ tone cao nhất tới tone trầm nhất. Nhưng trong một số trường hợp, như khi có cảm xúc mãnh liệt, quãng cao độ này có thể mở rộng ra. Chẳng hạn, khi muốn nhấn mạnh, người ta có thể nói từ yes thành \yes. Đối với trường hợp này, chúng ta có thể dùng ký hiệu mũi tên hướng lên ↑ để chỉ sự mở rộng quãng cao độ. Theo đó, hai cách nói từ ‘yes’ trên đây có thể được kí hiệu là:

yes                                     ↑yes

Một số chức năng của ngữ điệu

Fall yes no:
Cách phát âm này vốn dĩ có sắc thái biểu đạt bình thường, trung tính, như câu trả lời cho một câu hỏi yes/no question nào đó và không cần phải nói thêm gì cả. Sự xuống tông tạo cảm giác về sự kết thúc ý.

Rise  yes no:
Sự lên tông tạo cảm giác rằng còn gì đó sẽ cần tiếp nối sau đó trong cuộc nói chuyện. Một ví dụ điển hình là:

A (muốn B chú ý): Excuse me.
B: yes.

Cách nói từ ‘yes’ của B khiến nó có thông điệp khác đi kèm là “what do you want?”.

Một ví dụ khác là:

A: Do you know John Smith?
B: yes.

Cách đáp lời này hàm chứa thông điệp là B có biết John Smith và muốn A tiếp tục điều mà anh ấy muốn nói về John Smith. Lúc này sự lên tông giống như một lời mời người nghe tiếp tục nói. Chẳng hạn:

A: You start off on the ring road…
B: yes.
A: turn left at the first roundabout…
B: yes.
A: and ours is the third house on the left.

Còn với ‘no’. Có ví dụ sau:

A: Have you seen Ann?

Nếu B trả lời no, B không hứng thú với đề tài đó. Còn khi B trả lời no, B muốn A tiếp tục giải thích vì sao cô ấy tìm Ann hoặc tại sao cô ấy không biết Ann ở đâu, đại loại vậy.

Tương tự như vậy, khi ai đó hỏi một câu mà hàm chứa ý muốn sẵn sàng đưa ra một thông tin mới mẻ nào đó.

A: Do you know what the longest ballon flight was?

Nếu B trả lời no, B sẽ tạo cảm giác là anh ta chẳng hứng thú gì với câu đố ấy. Còn với no, B khuyến khích A nói tiếp.

Fall-rise ̬ yes  ̬ no:
Cách phát âm này tạo cảm giác về sự đồng tình phần nào (limited agreement) hoặc đáp lời với sự dè dặt (response with reservations).

A: I’ve heard that it’s a good school.
B: ̬ yes

B không đồng tình hoàn toàn với A, và A có thể sẽ chờ đợi B tiếp tục lí giải tại sao anh ấy đồng ý một cách miễn cưỡng như vậy. Tương tự:

A: It’s not really an expensive book, is it?
B: ̬ no

Sự xuống-lên tông này thể hiện sự không đồng tình hoàn toàn với điều được nói trước đó. Đồng thời cũng thể hiện sự dè dặt hoặc ngần ngại.

Rise-fall ̭ yes ̭ no:

Sự lên-xuống tông này thể hiện cảm xúc đồng tình, hoặc phản bác một cách mạnh mẽ, hoặc cảm giác ngạc nhiên.

A: You wouldn’t do an awful thing like that, would you?
B: ̭ no.

A: Isn’t the view lovely?
B: ̭ yes.

A: I think you said it was the best so far.
B: ̭ yes.

Level _ yes _no:

Cách phát âm này chỉ phản ánh một điều gì mang tính thói quen, không có gì thú vị hoặc nhàm chán. Chẳng hạn, khi được điểm danh, học trò sẽ trả lời ‘yes’ với ngữ điệu không đổi.

 

 

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 1

Đây là bài đầu tiên cho chuỗi những bài viết được dịch và tổng hợp lại từ cuốn English Phonetics & Phonology – A Practical Course của Peter Roach.

Mục đích khóa học:

Bằng lý thuyết về ngữ âm học (phonology) và âm vị học (phonetics), khóa học diễn giải cách phát âm Tiếng Anh theo chất giọng (accent) được xem là tiêu chuẩn trong học Tiếng Anh giao tiếp ở nước Anh.

Tiếp cận thông qua lý thuyết ngôn ngữ học là cần thiết vì nó cung cấp những nguyên lý mang tính phổ quát về việc phát âm tiếng Anh.

Chương trình học:

Âm vị (phonemes) là những âm được sử dụng để phát ra tiếng nói, gồm nguyên âm và phụ âm. Chẳng hạn, ‘pin’ và ‘pen’ có phụ âm giống nhau và khác nhau nguyên âm /i/ và /e/; tương tự như vậy với phụ âm đầu của hai từ ‘pet’ và ‘bet’.

Tiếng Anh khác với tiếng Việt ở chỗ: nếu tiếng Việt nói thế nào thì viết thế ấy – mối quan hệ chỉ có tính một đối một, thì trong tiếng Anh, 1 chữ cái có nhiều cách phát âm và một âm cũng có thể được thể hiện bởi nhiều chữ cái – mối quan hệ không có tính một đối một.

Do đó, nếu học tiếng Việt chỉ cần học bảng chữ cái “a ă â b c…” là có thể vừa phát âm vừa viết chữ, thì người học tiếng Anh phải vừa học bảng chữ cái để viết, vừa học bảng âm vị để phát âm.

Chẳng hạn từ ‘enough’ được phát âm phần đầu giống từ ‘inept’ nhưng phụ âm cuối lại phát âm giống với trong từ “stuff”. Và theo bảng âm vị, khi phiên mã (transcribe) cách phát âm từ ‘enough’, ta có /in^f/.

Bảng âm vị mà chúng ta được học thuộc bảng âm vị Quốc Tế (International Phonetic Alphabet – IPA). Có rất nhiều ngôn ngữ khác cũng có tính chất giống Tiếng Anh, nên việc học bảng âm vị này sẽ giúp ích rất nhiều khi chúng ta muốn khảo cứu cách phát âm của nhiều ngôn ngữ khác từ góc độ Âm vị học của Tiếng Anh.

Chương 1 của khóa học sẽ nói về cách nhận diện và mô tả những âm vị trong Tiếng Anh. Chương 2, 3 nói về nguyên âm. Và Chương 4 nói về phụ âm. Chương 5 nói về bảng âm vị và cách sử dụng những ký hiệu âm vị.

Sau âm vị, khóa học sẽ nói về trọng âm (stress) – về độ nặng của âm tiết và ngữ điệu (intonation) – về cao độ của giọng trong một câu.

Về chất giọng (accents):

Mỗi ngôn ngữ nói đều có nhiều accent (chất giọng – cách phát âm khác nhau của những người thuộc khu vực địa lý, hay văn hóa, xã hội khác nhau). Chẳng hạn, trong tiếng Việt, cùng là một câu “…”, ở miền Bắc phát âm là…, miền Nam phát âm là…. Trong tiếng Anh,

Accent khác với dialect (phương ngữ) ở chỗ dialect là biến thể của một ngôn ngữ, không chỉ bao gồm cách phát âm mà còn bao gồm cả hệ thống từ vựng, ngữ pháp và trật tự từ nữa. Ví dụ… Còn accent thì chỉ là về cách phát âm mà thôi.

Trong khóa học này, accent được dùng làm mẫu để dạy là Received Pronunciation (RP), đây là cái tên đã cũ và có nhiều thiếu sót. Ngày nay, vì nó là giọng quen thuộc của các phát thanh viên thuộc BBC cũng như nhiều kênh truyền hình ở Anh khác, nên nó được gọi bằng cái tên phù hợp hơn là BBC Pronunciation (cách phát âm của BBC).

Khóa học này không dành cho những ai muốn học cách phát âm Mỹ. Cách phát âm Tiếng Anh ở Bắc Mỹ khác với ở Anh. Tuy đôi khi cũng có ngoại lệ, chẳng hạn ở một số vùng của Anh phát âm giọng Mỹ, một số vùng của Mỹ phát âm giọng anh, nhưng nhìn chung thì giọng của phần đông Mỹ khác bởi BBC Pronunciation.

Về cách phát âm của người Anh cũng có nhiều điều cần nói. Đế quốc Anh (Liên hiệp Anh) bao gồm Britain (gồm nước Anh (England), Scotland, xứ Wales) và Bắc Ireland. Mỗi vùng sẽ có một chất giọng khác nhau. Thường cách phát âm của người Anh thường phân biệt giữa miền Bắc (Northern) và miền Nam (Southern). Và ranh giới của sự phân biệt giọng giữa hai miền không hề rõ ràng và còn gây tranh cãi. Nhưng thường những người thuộc vùng Lancashire, Yorkshire hoặc những quận (county) khác ở miền Bắc được xem là nói giọng Bắc. Tuy nhiên, việc học giọng BBC Pronunciation không có nghĩa là giọng này cao quý hơn hay dễ nghe hơn giọng khác, chỉ dơn giản là giọng này được nhiều giáo viên Anh Quốc chọn để dạy tiếng Anh cho người nước ngoài, và đây là giọng được mô tả đầy đủ nhất bởi nhiều tài liệu khoa học và được chọn để dùng trong các giáo trình cũng như từ điển tiếng Anh.

Có một từ được khá thịnh hành ngày nay khi nói về chất giọng Anh Anh là Estuary English (Tiếng Anh vùng cửa sông). Người ta sẽ tưởng rằng đây là loại chất giọng mới xuất hiện. Nhưng không, thuật ngữ này thực tế xuất hiện từ những quan sát của ngôn ngữ xã hội học khi thấy một số người vốn dĩ phát âm giọng BBC nay tiếp nhận một số tính chất của cách phát âm ở vùng Luân Đôn (cửa sông Thames) như là ngắt thanh hầu (glottal stops) – những đặc điểm phát âm vốn trước đây gây bình phẩm hoặc phản đối.

Các lưu ý:

Cách gọi tên BBC Pronunciation được đề xuất trong cuốn Daniel Jones English Pronouncing Dictionary (15th edition; edited and revised by P.Roach & J.Hartman, 1997), trong Trudgill (1999), và Ladeforged (2000).

BBC có khóa học về cách phát âm BBC, nhưng không thể thuyết phục các phát thanh viên sử dụng cách phát âm này. Nếu chúng ta có thể lựa chọn chất giọng mẫu mực, giọng Scotland và Ireland có thể là những ứng cử viên phù hợp hơn, vì mối quan hệ giữa chữ viết và âm gần với nhau hơn là BBC, và chúng cũng có hệ thống nguyên âm đơn giản hơn, và do đó dễ dàng hơn cho nhiều người học ngoại quốc. Tuy nhiên, đây là một khả năng hy hữu vì phần đông giáo viên đều ngần ngại khi áp dụng nhiều accent khác nhau trong lớp học.

Một vấn đề khác cần bàn luận là cách lựa chọn ký tự biểu thị âm vị. Trước đây, có rất nhiều cách đề xuất sử dụng những ký tự khác nhau giữa các tài liệu. Biểu tượng dùng trong khóa này được đề xuất bởi A.C. Gimson trong cuốn Introduction to the Pronunciation of English (1994). Ngày nay, cách dùng ký hiệu này được sử dụng trong hầu như mọi tài liệu về phát âm Tiếng Anh xuất bản ở Anh và có thể xem như tiêu chuẩn thực tế.

Với giáo viên:

Việc dạy phát âm chưa bao giờ phổ biến với những lý thuyết gia về giảng dạy ngôn ngữ, và vào thập niên 70 hoặc 80, nó bị xem là một hoạt động lạc hậu. Người ta cho rằng việc luyện phát âm cho giống người bản ngữ qua những bài tập lặp đi lặp lại chỉ gây nản lòng người học và không có ý nghĩa nhiều với giao tiếp. Gần đây, người ta quan tâm hơn đến việc dạy phát âm và nhiều ấn phẩm được xuất bản cũng viết về vấn đề này.

Không một khóa học nào mà tôi biết nói rằng người học phải cố gắng nói với giọng BBC hoàn hảo. Điều đó nhầm lẫn giữa hình mẫu (models) với mục tiêu (goals): hình mẫu được chọn là BBC, nhưng mục tiêu thường là để phát triển khả năng phát âm của người học một cách đầy đủ để giúp họ giao tiếp một cách hiệu quả với người bản ngữ.

Những bài tập về phát âm hiển nhiên có thể rất khó, nhưng là cần thiết để người học trở nên khá hơn. Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho là trọng tâm của việc giảng dạy về phát âm và âm vị tập trung một cách cứng nhắc về việc kiện toàn nguyên âm và phụ âm: Jones (1956 – xuất bản lần đầu 1909) có nói rằng cách phát âm tốt là cách phát âm mà hầu như mọi người dùng ngôn ngữ đó hiểu được; và ngược lại, cách phát âm tồi là cách phát âm mà phần đông không hiểu. Khi người nói có giọng khác người nghe, người nghe vẫn hiểu được, chẳng hạn như khi cả người Mỹ lẫn người Scotland cùng đánh giá là cách phát âm của một người nào đó là rõ ràng, thì không thể nào nói họ phát âm tồi được.

Gần đây, người ta viết nhiều về Tiếng Anh Quốc Tế International English. Nhưng đây là một phạm trù khác với được nêu trong cuốn sách này, vốn chỉ mô tả một giọng cụ thể. Vấn đề về phát âm mà những khảo cứu về International English đề xuất là Minimum General Intelligibility.

 

 

Standard
Sống

Gửi tôi 30

Sài Gòn, ngày 20 tháng 7 năm 2017

Chào người bạn to lớn,

Tôi thường nghĩ rằng cậu không còn sống để nhận được bức thư này. Nhưng dạo gần đây, trong những phút mơ mộng của mình, tôi nghe nói rằng cậu đang sống rất hạnh phúc. Thực ra tôi chả biết gì về cậu cả, và có lẽ trong những tháng ngày hạnh phúc của mình, cậu cũng đã dần quên tôi. Nên tôi muốn viết thư này để cùng cậu ôn lại một vài chuyện cũ.

Những ngày này là lúc tôi đang xin việc làm. Điều đáng nói là tôi chẳng biết mình phải làm việc gì cả. Hậu quả của việc trước giờ chỉ làm những việc mình thích là tôi trở nên rất nhanh chán và dễ từ bỏ. Dẫn đến tôi chẳng theo đuổi cái gì đến nơi đến chốn cả. Ngoài ra, tôi không tổ chức cuộc sống tốt, không cân bằng được giữa làm việc và các sinh hoạt khác.

Tôi có một cảm giác là những người có thể cân bằng tốt giữa lao động và tận hưởng cuộc sống là những người có ai đó để chia sẻ với họ: gia đình hoặc người yêu. Tôi không có người yêu. Còn gia đình thì cách tôi hàng ngàn năm ánh sáng về tâm tư tình cảm, nên tôi cũng không thể chia sẻ điều gì với họ. Còn bạn bè? Việc không có nền tảng gia đình lẫn tình yêu, cũng như trước đó vốn không phải là người quảng giao khiến tôi, mỗi khi làm bạn với một ai đó, luôn không biết phải đặt họ ở một vị trí nào trong tâm trí của mình. Đôi khi tôi đặt họ quan trọng hơn gia đình. Đôi khi tôi nhầm lẫn họ với người yêu. Đôi khi tôi nghĩ những gì mình có với họ giống như mối quan hệ đối tác. Tôi kết bạn rồi lại xóa bỏ họ khỏi cuộc đời mình. Sau những đóng góp, dựng xây, tôi đạp đổ hết mọi thứ.

Tôi luôn bị giằng xé bởi đúng và sai. Tôi luôn cố gắng nghĩ, nói và làm đúng. Nhưng rồi tôi lại tìm kiếm cả những quan điểm phản biện lại những cái đúng đó. Và rồi tôi bước vào một trạng thái đúng không còn là đúng mà sai cũng chẳng còn là sai nữa. Giờ đây, tôi không còn đủ tự tin để viết một cái gì bằng lời của riêng mình, mà tôi phải vay mượn từ ai đó.

Trong sự tiện nghi vật chất của mình, tôi đắm chìm trong những câu hỏi mang tính lý thuyết về mục đích tồn tại. Nhưng rồi thoát khỏi chúng, tôi lại phải đối mặt với những thủ tục của việc sinh tồn: ăn uống, công việc, tình dục và sự nghỉ ngơi. Tôi như một kẻ chỉ biết có đích đến mà không biết có quá trình. Có những trưa nắng, tôi chạy xe lòng vòng khắp thành phố mà không biết nơi nào để đến. Tôi không thể ở lì trong phòng trọ vì quá ngột ngạt. Các quán xá ở Sài Gòn chẳng có nơi nào mà tôi thuộc về. Tôi vừa muốn về nhà với gia đình, lại vừa muốn chạy xa khỏi họ. Tôi muốn đi đâu đó thật xa, nhưng lại bị ràng buộc bởi nhiều thứ mà mình không đủ ý chí để vứt bỏ.

Tôi lúc này như một kẻ không biết phải sống như thế nào cho ra sống. Và cũng chẳng có ai bên cạnh dạy tôi điều đó nữa. Và tôi cũng đã quá tuổi để học những bài học như vậy – người ta sẽ bực mình lên mất nếu phải chỉ vẽ một gã to xác điều đó.

Để tôi kể cậu nghe các giấc mơ của tôi nói gì về cậu. Chúng nói rằng cậu là một gã khỏe mạnh, giàu có, đẹp trai, sống hòa thuận với và chăm lo tốt cho gia đình, có một tình yêu đẹp, được vây quanh bởi những người bạn tốt. Và tôi thực sự bất ngờ vì không ngờ một kẻ từng như tôi hôm nay lại có thể có một cuộc sống mà với tôi lúc này là đáng mơ ước như vậy.

Nếu đọc được thư này, hãy gửi một thông điệp nào đó từ tương lai đến cho tôi lúc này, để tôi tìm được đường đến với cậu nhé, anh bạn to lớn.

Tuân.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Standard
Uncategorized

[Gems] Ruby – Hồng Ngọc

Thông số

Khoáng vật: Corundum

Công thức hóa học: Al2O3

Màu sắc: Đỏ

Chỉ số khúc xạ: 1.762 đến 1.770

Lưỡng chiết suất: 0.008 – 0.010

Trọng lượng: 4.00 (+/- 0.05)

Độ cứng MOHS: 9

Mô tả chung

Ruby hay Hồng Ngọc là loại đá quý nhất thuộc họ khoáng vật Corundum (tinh thể Oxit Nhôm), bao gồm cả Sapphire. Nó thuộc một trong những loại đá có giá thành cao nhất, và vì vậy nó có một vị trí quan trọng trong thị trường đá quý.

Ở dạng tinh khiết nhất, Corundum trong suốt không màu. Nhưng những nguyên tố vi lượng tham gia vào cấu trúc tinh thể của khoáng vật khiến nó có màu sắc. Chính nguyên tố Crome đã khiến Ruby có màu đỏ. Sắc đỏ này có thể biến đổi từ đỏ cam đến đỏ tía.

Những loại Hồng Ngọc nổi tiếng nhất như ở Myanmar, Himalayas hay miền Bắc Việt Nam thường được tìm thấy bên trong vân đá Cẩm Thạch, phân bố không đồng đều trong các lớp. Cẩm thạch là đá vôi trải qua quá trình biến chất nhờ nhiệt độ và áp suất cao từ hoạt động kiến tạo núi.

Đá Cẩm Thạch có hàm lượng sắt thấp, nên Ruby hình thành trong nó (gọi là “marble-hosted”, có vật chủ là Cẩm Thạch) cũng thiếu sắt. Do đó, nhiều viên đá ruby có màu đỏ rất đậm.

Thêm vào đó, Ruby trong Cẩm Thạch thường phát quang dưới ánh sáng cực tím – kể cả ánh sáng cực tím trong ánh mặt trời. Sự phát quang này có thể khiến màu sắc Ruby đậm hơn và tăng giá trị.

Ở nhiều khu vực khác, đá Ruby được tìm thấy ở đá Bazan. Ruby từ những nguồn này có thể chứa nhiều sắt, khiến nó có tối hơn và màu đỏ không đậm bằng Ruby trong Cẩm Thạch. Hàm lượng sắt cao trong loại Ruby này cũng có thể tạo một lớp phát quang đỏ, nhưng không bằng Ruby trong Cẩm Thạch.

Lịch sử và Chuyện kể

Đỏ là màu sắc của những cảm xúc mạnh mẽ nhất – yêu thương và giận dữ, đam mê và cuồng nộ. Nó gắn liền với những vật thể của quyền lực và khao khát – như những chiếc xe hơi tốc độ hay hoa hồng. Những nền văn hóa sơ khai tôn thờ ruby vì sắc đỏ ruby giống sắc đỏ của máu, và tin rằng ruby chứa quyền năng của cuộc sống.

Ruby là một trong những loại đá quý có lịch sử đáng kể nhất. Nó được nhắc đến bốn lần trong kinh thánh, gắn liền với những đức tính như nhan sắc và trí tuệ. Trong tiếng Phạn, Ruby được gọi là Ratnaraj, nghĩa là “vua của các loại đá quý”.

Trong thế kỷ đầu sau Công Nguyên, học giả người La Mã Pliny đã đưa Ruby vào trong cuốn Natural History của ông ấy, mô tả về độ cứng và mật độ của nó. Người Hindu cổ cũng tin rằng những ai dâng tặng những viên ruby đẹp nhất cho thần Krishna sẽ được tái sinh làm hoàng đế.

Người Hindu chia Ruby thành bốn đẳng cấp, gọi loại Ruby thuần túy nhất của Phương Đông là Brahmin. Nếu ai sở hữu Brahmin, người đó sẽ có một sự an toàn tuyệt đối.

Ruby xuất hiện trong nhiều huyền thoại suốt nhiều thế kỷ. Người Ấn Độ tin rằng đá Ruby giúp chủ sở hữu của nó sống thuận hòa với kẻ thù. Ở Burma (một xứ sở của Ruby từ ít nhất năm 600 sau Công Nguyên – nay là Myanmar), những chiến binh sở hữu Ruby để giúp họ chiến thắng trong các trận chiến. Tuy nhiên, chỉ mang ruby không thì không đủ. Họ phải chạm Ruby vào trong da thịt và biến nó thành một phần cơ thể của mình.

Hồng ngọc có tên tiếng Anh là ruby, xuất phát từ ruber trong tiếng La tinh có nghĩa là “màu đỏ”. Sắc đỏ tỏa ra từ Ruby khiến người ta nghĩ rằng có một ngọn lửa đỏ không bao giờ dập tắt được bên trong viên đá, nó xuyên qua trang phục và thậm chí đun sôi được cả nước.

Ruby được xem là loại đá quý nhất trong 12 loại đá được tạo ra bởi Thượng Đế.

Ruby đóng vai trò quan trọng trong sự khai sinh của thế giới phương Tây và trở thành một trong những loại đá quý được khao khát nhất của giới quý tộc và hoàng gia Châu Âu. Họ mang Ruby để khẳng định địa vị xã hội và xem nó như biểu tượng của sức khỏe, sự giàu có và thành công trong tình yêu.

Sự khao khát dành cho Ruby ngày nay vẫn không hề thay đổi. Là biểu tượng của đam mê, Ruby là một tặng phẩm lý tưởng trong tình yêu. Người ta còn yêu thích nó vì nó mang dấu hiệu của sự thành công và thịnh vượng.

Hành trình của Ruby

Rất ít người bên ngoài ngành công nghiệp đá quý nhận ra được bản chất thực sự của hành trình của một viên đá từ mỏ khoáng vật đến cửa hàng đá quý. Dù cho viên đá được trưng bày ở một gian hàng trang sức truyền thống, một trang web bán hàng trên mạng, hay một quảng cáo trên truyền hình, hành trình của Ruby luôn hàm chứa rất nhiều những nỗ lực. Hàng tấn đất và rất nhiều thời giờ cần có để mang đá từ mỏ khoáng đến thị trường.

Tháng sinh và Kỷ niệm

Ruby là đá sinh nhật cho tháng Bảy và là đá quý cho kỷ niệm lần thứ 15 và 40.

 

Standard
Nhạc

Thí dụ

Thí dụ bây giờ tôi phải đi, tôi phải đi.
Tay chia ly cùng đời sống này.
Có chiều hôm đưa chân tôi về biên giới mới.
Nghe ra quanh tôi đêm dài.
Có còn ai trong yên vui về yêu dấu ngồi?
Rơi lệ ru người từ đây.
.
Thí dụ bây giờ em phải đi, em phải đi.
Đôi tay em dù ưu ái đời, em phải đi.
Đôi môi ngon dù chưa chín tới.
Quanh em trăm năm khép lại .
Có còn ai mang hoa tươi về yêu dấu ngồi?
Quên đời xoá hết cuộc vui.
.
Có còn, có còn em
Im lìm trong chiều hôm
Nước mắt rơi cho tình nhân?
Nếu còn, nếu còn em
Xin được, xin nằm yên
Đất đá hân hoan một miền.
.
Nếu thật, hôm nào em bỏ đi, em bỏ đi
Sau lưng em còn con phố dài.
Những hàng cây loan tin nhau rồi im tiếng nói.
Quanh đây hoang vu tiếng cười.
Có ngày xưa em theo tôi cùng ra quán ngồi.
Bên đời xe ngựa ngược xuôi.
.
Nếu thật hôm nào tôi phải đi, tôi phải đi
Ôi bao nhiêu điều chưa nói cùng
Với bình minh, hay đêm khuya, và từng trưa nắng
Bao nhiêu sen xanh, sen hồng
Với dòng sông hay anh em
Và những phố phường.
Chắc lòng rất khó bình an!

.

Trên đây là lời bài hát ca khúc Rơi lệ ru người (Thí dụ) do nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết năm 1975, sau được Khánh Ly thu âm trong băng nhạc Một cõi đi về (1992). Đã có nhiều người hát ca khúc này, nhưng tôi thích nhất cách thể hiện của nữ ca sĩ Nguyên Thảo. Cách hát của Nguyên Thảo phù hợp với tâm hồn người trẻ: nó nhẹ nhàng, tươi sáng, và đẹp. Đồng thời, nó cũng thể hiện được sự trân trọng, chỉn chu của người ca sĩ trong từng câu hát.

Standard