Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 18

Ngữ điệu có các chức năng sau:

i) Ngữ điệu cho phép chúng ta thể hiện cảm xúc và thái độ khi nói, điều này tạo ra một sắc thái nghĩa cho ngôn ngữ nói. Chức năng này gọi là chức năng tình thái, attitudinal function.

ii) Ngữ điệu giúp tạo ra sự tương phản về cường độ, trường độ, cao độ giữa các âm tiết, giúp nhấn mạnh những âm tiết hay từ vựng mà người nói muốn nhấn mạnh. Đây gọi là chức năng nhấn mạnh, accentual function.

iii) Ngoài ra, ngữ điệu là dấu hiệu nhận biết cấu trúc ngữ pháp trong văn nói, nó thể hiện ranh giới giữa các ngữ, các mệnh đề, hoặc các câu; nó thể hiện thể khẳng định và nghi vấn, và nó còn thể hiện được các yếu tố chính-phụ của cấu trúc câu nói. Đây là chức năng ngữ pháp, grammatical function, của ngữ điệu.

iv) Nhìn rộng hơn, ngữ điệu ra dấu cho người nghe biết thông tin nào đã được cho biết, thông tin nào là mới, có thể giúp người nghe đối chiếu, liên kết các dữ liệu trong giao tiếp, cho họ biết rằng họ phải nói gì tiếp theo cho phù hợp tình huống. Chức năng đàm thoại, discourse function, là chức năng này của ngữ điệu.

Chức năng tình thái (attitudinal function) của ngữ điệu:

dd

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 17

Trong chương trước chúng ta đã nói về cách biến đổi cao độ trong những phần đuôi theo sau âm tiết tông trong trường hợp âm tiết tông là rising tone và falling tone. Tiếp sau đây chúng ta sẽ nói về trường hợp âm tiết tông là fall-rise và rise-fall.

Phần đuôi của tông fall-rise và tông rise-fall

Sự nối dài của tông từ âm tiết tông sang đuôi ở những trường hợp fall-rise tone và rise-fall tone khá phức tạp. Chẳng hạn, khi thêm vào đơn vị tông chỉ có một âm tiết sau:

 ̬ some

một phần đuôi là 1 âm tiết nữa, thành:

 ̬ some ·men

thì tông fall-rise này sẽ được phân bố cho hai âm tiết: phần fall rơi vào âm tiết ‘some’ và phần rise rơi vào âm tiết ‘men’. Trong trường hợp này, khi giữa âm tiết thứ nhất và âm tiết thứ hai không có một phụ âm vô thanh chen giữa gây ra nhịp ngắt của tông thì kết quả thu được là một sự chuyển tông diễn ra liên tiếp tương tự như ở đơn vị tông một âm tiết (\/).

 ̬ some ·chair

Còn trong trường hợp giữa hai âm tiết có chèn một phụ âm vô thanh, khiến cho tông bị ngắt quãng. (\ /)

Tuy nhiên, nhiều người nói tiếng Anh hầu như cảm thấy sự chuyển tông trong trường hợp này không khác gì trong hai trường hợp trước. Sự tương đồng này giống với sự hợp vần mà người ta vẫn thấy như giữa từ ‘balloon’ với từ ‘moon’, và người ta gọi nó là tonal rhyme (sự hợp vần tông). Theo đó  ̬ some ·chair hợp vần tông với  ̬ some.

Khi đuôi có từ hai âm tiết trở lên, thì cũng tương tự như trên, phần fall của tông vẫn rơi vào âm tiết tông, còn phần rise sẽ rơi vào âm tiết nhấn cuối cùng ở phần đuôi. Tông sẽ vẫn giữ ở cao độ thấp khi rơi xuống ở âm tiết tông, cho đến khi gặp âm tiết được nhấn cuối cùng của phần đuôi thì sẽ được nâng lên đến khi kết thúc đơn vị tông. Nếu không có âm tiết nào được nhấn ở phần đuôi, phần rise sẽ rơi vào âm tiết cuối. Sau đây là một số ví dụ:

i) I  ̬ might  ·buy it

I  ̬ might have ·thought of ·buying it

ii)  ̬ most  of them

̬ most  of it was for them

 

Với tông rise-fall tone, chúng ta cũng thấy tương tự: phần rise rơi vào âm tiết tông, và phần fall được phân bố ở phần đuôi đơn vị tông.

 ̭ no  (/\)

 ̭ no one (/\)

 ̭ no sir (/ \)

Khi có nhiều hơn một âm tiết, âm tiết liền sau âm tiết tông sẽ luôn có cao độ cao hơn âm tiết tông và những âm tiết còn lại sau nó sẽ có cao độ thấp. Chẳng hạn:

 ̭ beautiful  (/ – _ )

 ̭ all of them went (/ – _ _ )

 ̭ thats a nice way to speak to your mo ther (/ – _ _ _ _ _ _ _ _)

Người nói không có lựa chọn nào khác cho sự chuyển tông của phần đuôi. Cao độ phần đuôi thế nào phụ thuộc vào tông được chọn cho âm tiết tông.

 

Phần đầu cao và thấp

Cao độ của phần đầu đơn vị tông có thể là high head, khi âm tiết nhấn ở đầu phần head có cao độ cao hơn cao độ của âm tiết tông. Chẳng hạn:

The ‘bus was late ( _ – – \ )

Is ‘that the end ( _ – – /)

Nó cũng có thể là low head, khi âm tiết nhấn của phần head có cao độ thấp hơn cao độ của âm tiết tông. Ký hiệu của nó là (‚). Chẳng hạn:

The ,bus was late ( _ _ _ \ )

Is ,that the end ( _ _ _ / )

Những âm tiết không nhấn theo sau âm tiết nhấn trong phần head sẽ tiếp nối cái cao độ của âm tiết nhấn. Trong những ví dụ sau, những âm tiết không nhấn ‘if it had’ có cao độ giống như cao độ của âm tiết nhấn ‘asked’.

We ‘asked if it had come ( _ – – – – \ )

We ,asked if it had come ( _ _ _ _ _ \ )

Nếu có nhiều hơn môt âm tiết nhấn ở phần head, sẽ có sự chuyển nhẹ về cao độ từ âm tiết nhấn đầu sang âm tiết nhấn kế, sao cho hướng đến cao độ khởi đầu của âm tiết tông. Chẳng hạn những ví dụ sau:

The ‘rain was ‘com ing ‘down ‘fairly hard ( _ ¯ ¯ –  – – _ _ \ )

Ta có thể thấy trog ví dụ trên cao độ trượt dần từ âm tiết nhấn đầu tiên tới cao độ mở đầu của âm tiết tông ‘hard’. Còn trong ví dụ sau, vì âm tiết tông bắt đầu bằng cao độ thấp, nên toàn bộ phần trước đều giữ nguyên cao độ thấp.

,Thats ,not the ,story you ,told in court ( _ _ _ _ _ _ _ _ / )

Tương tự, với low head theo sau là falling tone:

,I could have ,bought it for ,less than a pound ( _ _ _ –  – – ¯ ¯ ¯ \ )

Và high head theo sau là rising tone:

‘Will there be a’nother ‘train  later (¯ ¯ ¯ ¯ –  – _ /)

Hiển nhiên thực tế khi khảo cứu về intonation của những phần đầu nhiều âm tiết ta sẽ thấy chúng có rất nhiều biến thể. Nhưng trên đây là những quan sát phổ quát nhất.

Nhiều người cho rằng đường hướng cơ bản, thông thường nhất của mọi intonation là luôn bắt đầu từ một tông cao sao đó hạ dần xuyên suốt utterance. Đây gọi là declination. Quan điểm cho rằng declination là một đặc tính của mọi ngôn ngữ là một quan điểm khá nổi trội. Nhưng tốt hơn hết chúng ta nên xem xét quan điểm này thông qua các chứng cứ ngữ liệu quan sát được.

Hai ký hiệu ‘ và , được dùng nhiều trong cuốn sách này với những mục đích khác nhau. Khi nói về trọng âm (stress), ‘ dùng để chỉ trọng âm chính, và , dùng để chỉ trọng âm phụ. Khi nói về ngữ điệu (intonation), ‘ dùng để biểu thị high head trong đơn vị tông và , biểu thị low head. Miễn là chúng ta phân biệt rõ khía cạnh ngữ âm được nói đến là trọng âm hay ngữ điệu, những ký hiệu này sẽ không bị nhầm lẫn.

Về sự nhập nhằng giữa trọng âm và ngữ điệu, cần làm rõ điều sau. Khi xem xét lời nói ở cấp độ đơn vị tông, cái cần quan tâm không phải là sự khác biệt về nhấn mạnh giữa các âm tiết trong một từ riêng lẻ, mà là sự khác biệt về nhấn mạnh giữa các âm tiết nhấn với các âm tiết không nhấn trong một đơn vị tông.

Những vấn đề của phân tích hình thức ngữ điệu (form of intonation):

Xác định âm tiết tông:

Chúng ta đã thấy rằng một tông có thể kéo dài từ âm tiết tông sang phần đuôi của nó, do đó không dễ để xác định âm tiết tông. Mặt khác, một trong năm tông là level tone, vốn không có sự thay đổi về cao độ. Do đó, chỉ có thể nói trong những trường hợp như trên, âm tiết tông được xem là âm tiết nổi bật nhất về cường độ, trường độ.

Thêm nữa, đôi khi một số đơn vị tông có chứa đến 2 âm tiết tông, nghĩa là trường hợp tông rise-fall hoặc fall-rise được phân bổ vào 2 âm tiết liền nhau:

(i) I’ve seen  him 

Có quan điểm cho là trường hợp trên vốn dĩ là:

(ii) I’ve  ̬ seen him 

Nhưng thực sự chúng khác nhau. Trước hết âm tiết ‘him’ ở (i) được nhấn mạnh tương đương với ‘seen’ nên nó phải phát âm như một strong form là /him/ chứ không được ở dạng weak form là /im/. Và về sắc thái biểu đạt cũng khác nhau, (i) có thể được nói trong một hội thoại khi nghe tên ai đó:

A: John Cleese is a very funny actor.

B: ‘Oh ,yes | I’ve seen him 

Còn (ii) giống như người nói có gì đó dè dặt hoặc còn điều gì đó nữa cần nói:

A: Have you seen my father yet?

B: I’ve  ̬ seen him | but I ‘havent had ‘time to talk to him.

Ta cũng thấy điều tương tự với âm tiết ‘her’ trong ví dụ sau:

I’ve seen  her 

I’ve  ̬ seen her

Xác định ranh giới giữa các đơn vị tông:

Về mặt ngữ pháp, có thể xác định ranh giới giữa các câu trong một lời thông qua những dấu hiệu về ngữ pháp như chấm câu. Tương tự, trong ngữ âm học siêu đoạn tính, ta cũng có thể xác định ranh giới giữa các đơn vị tông trong một lời thông qua những dấu hiệu về ngữ âm và âm vị. Tuy nhiên, việc rút ra quy luật cho sự phân biệt này rất khó, trừ khi có nhịp nghỉ rõ ràng giữa hai đơn vị tông.

Có hai nguyên tắc được nêu ra: một là có thể xác định dựa trên sự thay đổi đột ngột về cao độ khi một đơn vụ tông kết thúc và nhận ra sự bắt đầu của môt đơn vị tông khác khi người nói trở lại cao độ thường thấy ở phần đầu đơn vị tông; hai là tính nhịp điệu, trong một đơn vị tông, tiếng nói có một nhịp điệu thông thường, nhưng nhịp điệu ấy bị phá vỡ hoặc ngắt quãng ở những ranh giới đơn vị tông. Cả hai nguyên tắc trên đều hữu hiệu nhưng trong thực tiễn  phân tích ngữ điệu, không có một chứng cứ nào đủ thuyết phục để kết luận là hai nguyên tắc trên tuyệt đối đúng.

Những đơn vị tông bất quy tắc

Mọi mô tả khái quát dù có đầy đủ đến đâu cũng vẫn không bao hàm được hết các ngoại lệ, các mô tả ngữ điệu cũng vậy. Chẳng hạn, đôi khi người ta còn thấy những tông như fall-rise-fall hay rise-fall-rise. Hoặc ở phần đầu, người ta đôi khi thấy những âm tiết nhấn không phải lúc nào cũng toàn là high hoặc toàn là low. Chẳng hạn:

,After ,one of the ‘worst ‘day of my ̬ life

Và đôi khi, lời người nói bị ngắt và khiến cho một đơn vị tông bị dừng nửa chừng, chẳng hạn, thiếu âm tiết tông.

Tuy nhiên, với kiến thức về ngữ điệu, ta vẫn có thể phiên mã, xác định và nhận diện được các trường hợp bất quy tắc này.

Xem xét ngữ điệu một cách đoạn tính:

Gần đây, một cách phân tích ngữ điệu mới xuất hiện và thịnh hành là autosegmental, xuất hiện nhiều trong các nghiên cứu ở Mỹ. Theo hướng phân tích này, mọi biến đổi của ngữ điệu được quy về hai trạng thái đối cực là H (high tone) và L (low tone). Theo đó, fall tone sẽ là HL, chẳng hạn. Những âm tiết nhấn đều phải được đánh dấu là H hoặc L, hoặc kết hợp cả hai. Ranh giới có nhịp nghỉ (||) giữa các đơn vị tông được kí hiệu là %, và đặt ngay sau H hoặc L. Ví dụ “Its time to leave” sẽ được phiên mã là:

           H         H L%
Its time to leave

Ranh giới không có nhịp nghỉ (|) được kí hiệu là –, và cũng đặt sau H hoặc L.

           L                               L H–                H                       H L– L%
we looked   at   the         sky         and saw     the          clouds

Theo đó, ví dụ

 ̬ most of them

sẽ được phiên mã thành:

       H                   L– H%
most      of       them

 

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 16

Đơn vị tông (the tone-unit)

Tiếng Anh không phải là ngôn ngữ có thanh điệu (tone language). Do đó, cách phân tích chức năng và sự phân bố của tông trong Tiếng Anh khác với trong những ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Việt. Trong những ngôn ngữ có thanh điệu, người ta phân tích tông dựa trên việc khảo cứu từng đơn vị của ngữ âm học là âm tiết, xem xét mỗi âm tiết như là một đối tượng có thể biến đổi một cách độc lập về thanh điệu để mang nghĩa khác. Trong tiếng Anh, số lượng từ vựng 1 âm tiết có thể biến đổi sắc thái nghĩa khi biến đổi tông của chúng rất ít, chẳng hạn như từ ‘yes’ và ‘no’ ở chương 15. Việc phân tích tông trong tiếng Anh, theo đó, vượt lên trên phạm vi một âm tiết, do đó cần một đơn vị khác cho tông. Đó là đơn vị tông (tone-unit).

Một đơn vị tông chứa ít nhất 1 âm tiết. Cách định nghĩa khái niệm đơn vị tông tốt nhất là thông qua ví dụ minh họa. (vì trong khi nói, intonation biểu thị dấu câu, nên trong những ví dụ được ký hiệu về tông sau không cần phải đưa thêm dấu câu. Những âm tiết có chứa tông sẽ được gạch chân.):

is it ′you

Trong ví dụ trên, âm tiết thứ ba mạnh hơn hai âm tiết còn lại vì có chứa một tông: rising tone. Hai âm tiết đầu thường nhẹ hơn và được cho là có cao độ không đổi. Vậy tại sao chúng ta không nói rằng hai âm tiết ‘is’ và ‘it’ chứa tông ngang, level tone? Bởi vì nếu nói rằng các âm tiết trên chứa tông ngang, thì các âm tiết ấy sẽ cũng được nhấn mạnh như âm tiết ‘you’.

Chẳng hạn trong tiếng Trung Phổ Thông, từ mäma chứa hai âm tiết, âm tiết đầu mạnh, có thanh ngang; âm tiết sau nhẹ, vô thanh. Nếu âm tiết sau cũng chứa thanh ngang, nghĩa là nó sẽ mạnh như âm đầu, thì nó sẽ bị biến đổi nghĩa. Còn trong tiếng Anh, trong ví dụ trên, nếu nhấn cả ‘is’ và ‘it’, câu nói đó sẽ không tự nhiên mà như là đang cố gắng nói chậm và to ra cho một người lãng tai hiểu vậy.

Âm tiết có chứa tông gọi là âm tiết tông (tonic syllable). Những âm tiết chứa tông được nhấn mạnh hơn âm tiết không chứa tông. Một âm tiết tông không chỉ mang tông, mà nó còn được nhấn mạnh bằng trường độ, cường độ so với các âm tiết không mang tông trong câu nói. Sự nhấn mạnh này được gọi là nhấn tông (tonic stress). Một số người gọi dùng thuật ngữ nucleus và nuclear stress thay vì là tonic syllable và tonic stress.

Ví dụ trên có thể được mở rộng như sau:

John is it ′you

Fall-rise tone thường gặp khi gọi tên ai đó. Nếu có một nhịp nghỉ giữa ‘John’ và ‘is it you’ thì có 2 utterances ở đây. Nhưng chúng ta sẽ xem xét nó như một utterance.

Và utterance này được chia làm hai đơn vị tông: ‘john’ và ‘is it you’.

Có thể thấy rằng đơn vị tông có mối quan hệ thứ bậc (hierarchical relationship) với các đơn vị ngữ âm khác: một diễn ngôn (speech) bao gồm một hoặc nhiều lời nói (utterances), mỗi một lời nói gồm một hoặc nhiều đơn vị tông (tone-unit), mỗi một đơn vị tông bao gồm một hoặc nhiều feet, mỗi một foot bao gồm một hoặc nhiều âm tiết (syllables), mỗi một âm tiết bao gồm một hoặc nhiều âm vị (phonemes).

Cấu trúc của đơn vị tông:

Ở chương trước, ta chỉ mới đề cập đến một bộ phận cấu thành của đơn vị tông là âm tiết tông. Hầu như mọi đơn vị tông đều thuộc dạng đơn (simple), những dạng phức (compound) không được trình bày ở chương này. Mỗ đơn vị tông dạng đơn (simple tone-unit) luôn có một và chỉ một âm tiết tông; nói cách khác, âm tiết tông là bộ phận không thể thiếu và duy nhất của một đơn vị tông. (cũng giống như vai trò của nguyên âm trong âm tiết vậy). Ngoài âm tiết tông, đơn vị tông còn chứa:

The head – phần đầu đơn vị tông:

Đây là một utterance chỉ gồm 1 âm tiết tông:

those

Utterance sau gồm 1 đơn vị tông, và trong đó có 1 âm tiết tông như trên:

‘give me those

Toàn bộ phần đứng trước âm tiết tông trong đơn vị tông được xem là phần đầu (head). Mỗi một head được bắt đầu bằng một âm tiết nhấn (stressed syllable), như âm tiết ‘give’ ở trên. Head là bộ phận kéo dài từ âm tiết nhấn đầu tiên cho đến âm tiết tông. Nếu không có âm tiết nhấn đầu thì không có head.

Trong ví dụ sau, head bao gồm 5 âm tiết đầu:

‘Bill ‘called to ‘give me these

Còn ví dụ sau là một utterance gồm một đơn vị tông, có chứa 1 âm tiết tông nhưng không có head:

in an hour

Trong ví dụ này, hai âm tiết đầu không được gọi là head, mà chúng được gọi là pre-head (phần trước đầu).

The Pre-head, phần trước đầu của đơn vị tông:

Pre-head bao gồm toàn bộ những âm tiết không nhấn trong đơn vị tông đứng trước âm tiết nhấn đầu tiên, tức đứng trước head. Theo đó, phần pre-heads có thể bắt gặp ở 2 trường hợp sau:

i) Khi không có head (không có âm tiết nhấn trước âm tiết tông): như ví dụ ‘in an hour’ ở trên.

ii) Khi có head, như trong ví dụ:

in a ‘little ‘less than an hour

The tail – phần đuôi đơn vị tông:

Trong một đơn vị tông, thường theo sau âm tiết tông có một số âm tiết khác nữa. Toàn bộ những âm tiết từ âm tiết tông đến hết đơn vị tông được gọi là tail, tức phần đuôi của đơn vị tông. Những ví dụ sau sẽ cho thấy điều đó:

look at them

what did you say

both of them were here

Khi cần thiết phải nhấn một âm tiết thuộc phần đuôi, chúng ta phải dùng một ký hiệu đặc biệt là dấu chấm • vì những lí do sẽ được trình bày sau. Theo đó những ví dụ trên sẽ được phiên mã lại như sau:

look at them

what did you ·say

both of them were ·here

Như vậy, các bộ phận của một đơn vị tông có thể được mô tả như sau:

(pre-head) (head) tonic syllable (tail)

Hay

(PH) (H) TS (T)

Những bộ phận trong ngoặc là có thể có hoặc không có. Để minh họa rõ hơn, chúng ta cùng phiên mã một đoạn thoại dài gồm nhiều đơn vị tông sau. Để tách bạch ranh giới giữa các đơn vị tông, tức là kết thúc một đơn vị tông này và bắt đầu một đơn vị tông khác, người ta đôi khi có thể dùng một nhịp nghỉ, đôi khi không. Khi phiên mã, ranh giới giữa hai đơn vị tông sẽ là đường dọc kép (||) nếu có nhịp nghỉ, và sẽ là đường dọc đơn (|) nếu không có nhịp nghỉ.

|| and then ‘nearer to the  ̬ front || on the left | theres a ‘bit of forest | ‘coming ‘down to the waterside || and then a ‘bit of a bay ||

Theo đó, cấu trúc của các đơn vị tông trong đoạn thoại trên được minh họa như sau:

|| PH H TS || PH TS | PH H TS T | H TS  T || PH H TS ||

Đoạn trên gồm 5 đơn vị tông. Đơn vị tông thứ ba có đầy đủ các bộ phận, trong đó từ ‘forest’ gồm 2 âm tiết, âm tiết đầu là âm tiết tông và âm tiết sau là đuôi.

Những trường hợp về cao độ trong đơn vị tông dạng đơn:

Ngữ điệu của một lời nói được tạo ra bởi các đơn vị tông của lời nói đó.

Mỗi một âm tiết tông trong đơn vị tông đều phải chứa một trong 5 tông đề cập đến ở chương trước (rise, fall, rise-fall, fall-rise hoặc level). Nếu âm tiết tông là âm tiết cuối, tông nghe thấy sẽ không khác gì với một đơn vị tông chỉ gồm 1 âm tiết. Chẳng hạn, âm tiết tông ‘here’ trong đơn vị tông có phần đầu sau nghe cũng giống như thể khi nó là âm tiết tông của một đơn vị tông chỉ gồm một âm tiết:

here                                             ‘shall we ‘sit here 

Tuy nhiên, nếu có những âm tiết khác theo sau âm tiết tông, tức là nếu đơn vị tông có phần đuôi, chúng ta sẽ thấy sự chuyển hướng của cao độ trong tông không được đầy đủ trong âm tiết tông. Nếu phần đuôi theo sau một âm tiết tông rising tone, những âm tiết thuộc phần đuôi sẽ tiếp tục nâng lên về cao độ, tức người nói sẽ tiếp tục lên tông sau âm tiết tông rising tone.

Chẳng hạn, âm tiết ‘what’ trong đơn vị tông sau có rising tone, khiến cho phần đuôi theo sau nó cũng đi lên về cao độ:

what did you say

Tương tự như vậy, ta sẽ thấy trường hợp âm tiết tông falling tone khi có phần đuôi cũng sẽ khiến phần đuôi đi xuống về cao độ:

why did you go

Vì level tone thường không xuất hiện trong giao tiếp thông tục thông thường, nên chúng ta không khảo cứu về nó. Đối với các tông rise-fall và fall-rise, chúng ta sẽ nói đến trong chương sau.

 

 

 

 

 

Standard
Pronunciation

Phát âm Tiếng Anh – Chương 1

Đây là bài đầu tiên cho chuỗi những bài viết được dịch và tổng hợp lại từ cuốn English Phonetics & Phonology – A Practical Course của Peter Roach.

Mục đích khóa học:

Bằng lý thuyết về ngữ âm học (phonology) và âm vị học (phonetics), khóa học diễn giải cách phát âm Tiếng Anh theo chất giọng (accent) được xem là tiêu chuẩn trong học Tiếng Anh giao tiếp ở nước Anh.

Tiếp cận thông qua lý thuyết ngôn ngữ học là cần thiết vì nó cung cấp những nguyên lý mang tính phổ quát về việc phát âm tiếng Anh.

Chương trình học:

Âm vị (phonemes) là những âm được sử dụng để phát ra tiếng nói, gồm nguyên âm và phụ âm. Chẳng hạn, ‘pin’ và ‘pen’ có phụ âm giống nhau và khác nhau nguyên âm /i/ và /e/; tương tự như vậy với phụ âm đầu của hai từ ‘pet’ và ‘bet’.

Tiếng Anh khác với tiếng Việt ở chỗ: nếu tiếng Việt nói thế nào thì viết thế ấy – mối quan hệ chỉ có tính một đối một, thì trong tiếng Anh, 1 chữ cái có nhiều cách phát âm và một âm cũng có thể được thể hiện bởi nhiều chữ cái – mối quan hệ không có tính một đối một.

Do đó, nếu học tiếng Việt chỉ cần học bảng chữ cái “a ă â b c…” là có thể vừa phát âm vừa viết chữ, thì người học tiếng Anh phải vừa học bảng chữ cái để viết, vừa học bảng âm vị để phát âm.

Chẳng hạn từ ‘enough’ được phát âm phần đầu giống từ ‘inept’ nhưng phụ âm cuối lại phát âm giống với trong từ “stuff”. Và theo bảng âm vị, khi phiên mã (transcribe) cách phát âm từ ‘enough’, ta có /in^f/.

Bảng âm vị mà chúng ta được học thuộc bảng âm vị Quốc Tế (International Phonetic Alphabet – IPA). Có rất nhiều ngôn ngữ khác cũng có tính chất giống Tiếng Anh, nên việc học bảng âm vị này sẽ giúp ích rất nhiều khi chúng ta muốn khảo cứu cách phát âm của nhiều ngôn ngữ khác từ góc độ Âm vị học của Tiếng Anh.

Chương 1 của khóa học sẽ nói về cách nhận diện và mô tả những âm vị trong Tiếng Anh. Chương 2, 3 nói về nguyên âm. Và Chương 4 nói về phụ âm. Chương 5 nói về bảng âm vị và cách sử dụng những ký hiệu âm vị.

Sau âm vị, khóa học sẽ nói về trọng âm (stress) – về độ nặng của âm tiết và ngữ điệu (intonation) – về cao độ của giọng trong một câu.

Về chất giọng (accents):

Mỗi ngôn ngữ nói đều có nhiều accent (chất giọng – cách phát âm khác nhau của những người thuộc khu vực địa lý, hay văn hóa, xã hội khác nhau). Chẳng hạn, trong tiếng Việt, cùng là một câu “…”, ở miền Bắc phát âm là…, miền Nam phát âm là…. Trong tiếng Anh,

Accent khác với dialect (phương ngữ) ở chỗ dialect là biến thể của một ngôn ngữ, không chỉ bao gồm cách phát âm mà còn bao gồm cả hệ thống từ vựng, ngữ pháp và trật tự từ nữa. Ví dụ… Còn accent thì chỉ là về cách phát âm mà thôi.

Trong khóa học này, accent được dùng làm mẫu để dạy là Received Pronunciation (RP), đây là cái tên đã cũ và có nhiều thiếu sót. Ngày nay, vì nó là giọng quen thuộc của các phát thanh viên thuộc BBC cũng như nhiều kênh truyền hình ở Anh khác, nên nó được gọi bằng cái tên phù hợp hơn là BBC Pronunciation (cách phát âm của BBC).

Khóa học này không dành cho những ai muốn học cách phát âm Mỹ. Cách phát âm Tiếng Anh ở Bắc Mỹ khác với ở Anh. Tuy đôi khi cũng có ngoại lệ, chẳng hạn ở một số vùng của Anh phát âm giọng Mỹ, một số vùng của Mỹ phát âm giọng anh, nhưng nhìn chung thì giọng của phần đông Mỹ khác bởi BBC Pronunciation.

Về cách phát âm của người Anh cũng có nhiều điều cần nói. Đế quốc Anh (Liên hiệp Anh) bao gồm Britain (gồm nước Anh (England), Scotland, xứ Wales) và Bắc Ireland. Mỗi vùng sẽ có một chất giọng khác nhau. Thường cách phát âm của người Anh thường phân biệt giữa miền Bắc (Northern) và miền Nam (Southern). Và ranh giới của sự phân biệt giọng giữa hai miền không hề rõ ràng và còn gây tranh cãi. Nhưng thường những người thuộc vùng Lancashire, Yorkshire hoặc những quận (county) khác ở miền Bắc được xem là nói giọng Bắc. Tuy nhiên, việc học giọng BBC Pronunciation không có nghĩa là giọng này cao quý hơn hay dễ nghe hơn giọng khác, chỉ dơn giản là giọng này được nhiều giáo viên Anh Quốc chọn để dạy tiếng Anh cho người nước ngoài, và đây là giọng được mô tả đầy đủ nhất bởi nhiều tài liệu khoa học và được chọn để dùng trong các giáo trình cũng như từ điển tiếng Anh.

Có một từ được khá thịnh hành ngày nay khi nói về chất giọng Anh Anh là Estuary English (Tiếng Anh vùng cửa sông). Người ta sẽ tưởng rằng đây là loại chất giọng mới xuất hiện. Nhưng không, thuật ngữ này thực tế xuất hiện từ những quan sát của ngôn ngữ xã hội học khi thấy một số người vốn dĩ phát âm giọng BBC nay tiếp nhận một số tính chất của cách phát âm ở vùng Luân Đôn (cửa sông Thames) như là ngắt thanh hầu (glottal stops) – những đặc điểm phát âm vốn trước đây gây bình phẩm hoặc phản đối.

Các lưu ý:

Cách gọi tên BBC Pronunciation được đề xuất trong cuốn Daniel Jones English Pronouncing Dictionary (15th edition; edited and revised by P.Roach & J.Hartman, 1997), trong Trudgill (1999), và Ladeforged (2000).

BBC có khóa học về cách phát âm BBC, nhưng không thể thuyết phục các phát thanh viên sử dụng cách phát âm này. Nếu chúng ta có thể lựa chọn chất giọng mẫu mực, giọng Scotland và Ireland có thể là những ứng cử viên phù hợp hơn, vì mối quan hệ giữa chữ viết và âm gần với nhau hơn là BBC, và chúng cũng có hệ thống nguyên âm đơn giản hơn, và do đó dễ dàng hơn cho nhiều người học ngoại quốc. Tuy nhiên, đây là một khả năng hy hữu vì phần đông giáo viên đều ngần ngại khi áp dụng nhiều accent khác nhau trong lớp học.

Một vấn đề khác cần bàn luận là cách lựa chọn ký tự biểu thị âm vị. Trước đây, có rất nhiều cách đề xuất sử dụng những ký tự khác nhau giữa các tài liệu. Biểu tượng dùng trong khóa này được đề xuất bởi A.C. Gimson trong cuốn Introduction to the Pronunciation of English (1994). Ngày nay, cách dùng ký hiệu này được sử dụng trong hầu như mọi tài liệu về phát âm Tiếng Anh xuất bản ở Anh và có thể xem như tiêu chuẩn thực tế.

Với giáo viên:

Việc dạy phát âm chưa bao giờ phổ biến với những lý thuyết gia về giảng dạy ngôn ngữ, và vào thập niên 70 hoặc 80, nó bị xem là một hoạt động lạc hậu. Người ta cho rằng việc luyện phát âm cho giống người bản ngữ qua những bài tập lặp đi lặp lại chỉ gây nản lòng người học và không có ý nghĩa nhiều với giao tiếp. Gần đây, người ta quan tâm hơn đến việc dạy phát âm và nhiều ấn phẩm được xuất bản cũng viết về vấn đề này.

Không một khóa học nào mà tôi biết nói rằng người học phải cố gắng nói với giọng BBC hoàn hảo. Điều đó nhầm lẫn giữa hình mẫu (models) với mục tiêu (goals): hình mẫu được chọn là BBC, nhưng mục tiêu thường là để phát triển khả năng phát âm của người học một cách đầy đủ để giúp họ giao tiếp một cách hiệu quả với người bản ngữ.

Những bài tập về phát âm hiển nhiên có thể rất khó, nhưng là cần thiết để người học trở nên khá hơn. Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho là trọng tâm của việc giảng dạy về phát âm và âm vị tập trung một cách cứng nhắc về việc kiện toàn nguyên âm và phụ âm: Jones (1956 – xuất bản lần đầu 1909) có nói rằng cách phát âm tốt là cách phát âm mà hầu như mọi người dùng ngôn ngữ đó hiểu được; và ngược lại, cách phát âm tồi là cách phát âm mà phần đông không hiểu. Khi người nói có giọng khác người nghe, người nghe vẫn hiểu được, chẳng hạn như khi cả người Mỹ lẫn người Scotland cùng đánh giá là cách phát âm của một người nào đó là rõ ràng, thì không thể nào nói họ phát âm tồi được.

Gần đây, người ta viết nhiều về Tiếng Anh Quốc Tế International English. Nhưng đây là một phạm trù khác với được nêu trong cuốn sách này, vốn chỉ mô tả một giọng cụ thể. Vấn đề về phát âm mà những khảo cứu về International English đề xuất là Minimum General Intelligibility.

 

 

Standard